Hiển thị các bài đăng có nhãn lãi suất cao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lãi suất cao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Mía đường lo ngọt thành... đắng!

Việc tham gia TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương) sẽ buộc Việt Nam phải mở cửa ngành mía đường, gỡ bỏ các hạn ngạch nhập khẩu... Ngành này được dự báo sẽ gặp tình cảnh “đắng nhiều hơn ngọt” do chi phí sản xuất cao hơn đáng kể so với các nước trong khu vực và thế giới…

Nguy cơ bị nhấn chìm
Trong các nước tham gia TPP có Australia là nước xuất khẩu mía đường lớn thứ 3 thế giới. Trong khi chi phí sản xuất đường của Australia khoảng 20 USD/tấn thì chi phí này ở ta là khoảng 55-60 USD/tấn. Theo Vụ Chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công Thương), chỉ cần nhìn vào các con số này cũng cho thấy gia nhập TPP thì mía đường của ta sẽ khó cạnh tranh như thế nào ngay trên sân nhà khi “mở cửa”.

Nông dân thu hoạch mía tại huyện Phục Hòa, Cao Bằng. Ảnh: T.L
Nông dân thu hoạch mía tại huyện Phục Hòa, Cao Bằng. Ảnh: T.L
Bà Phan Thị Diệu Hà - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đánh giá: Chưa tính tới việc tham gia TPP thì từ năm 2018, Việt Nam cũng sẽ phải xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch thuế quan đường từ ASEAN theo cam kết hội nhập. Khi đó, việc nhập khẩu đường của Việt Nam từ các nước thành viên ASEAN sẽ không bị hạn chế về số lượng và thuế suất thuế nhập khẩu chỉ còn 5% (thay vì 30% như hiện nay).
Với TPP, theo bà Hà chậm nhất đến năm 2018, hiệp định này cũng sẽ có hiệu lực với việc gỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu cùng với thuế suất nhập khẩu mặt hàng này sẽ giảm xuống. Khi đó, không chỉ đường Thái mà đường Australia, Mỹ… cũng sẽ tăng cạnh tranh và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đường sản xuất trong nước. “Có thể nói, đây là sân chơi đòi hỏi ngành đường phải có sự chuẩn bị bài bản và quyết tâm lớn để nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm nhằm cạnh tranh vững vàng hơn” - bà Hà nhấn mạnh.
Ông Đỗ Thành Liêm - Phó Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam tỏ ra lo lắng, mía đường có thể “thất thế” ngay tại thị trường nội địa. Ông Liêm cho biết, giá thành sản xuất mía trong nước hiện rất cao. “Trong cơ cấu giá mía, chỉ tính riêng công lao động đã chiếm 20% giá thành. Công thuê chặt mía đã mất 170.000-180.000 đồng/tấn mía thì làm sao hạ được giá thành, cạnh tranh nổi khi hội nhập”- ông Liêm nói.
TS Phạm Quốc Doanh - Phó Trưởng ban chuyên trách Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp T.Ư thì thẳng thắn cho rằng, hội nhập đã cận kề, song các địa phương còn chưa vào cuộc với ngành mía đường. “Nếu chúng ta cứ 4 không: Không cơ giới hóa, không làm cánh đồng mẫu lớn, không quy hoạch lại ruộng mía và không liên kết nhà máy mía với nông dân thì nguy cơ đường nội “chìm” khi TPP có hiệu lực là khó tránh”- ông Doanh nói.
Thách thức hạ giá thành sản xuất
Một đại  diện  doanh nghiệp mía đường cho  biết, trong 12 nước thành viên TPP, giá thành sản xuất đường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với cả 11 nước còn lại. Nếu như ở các nước thuộc khu vực ASEAN, năng suất mía đạt 120-140 tấn/ha, thì Việt Nam chỉ đạt được 70 tấn/ha.
Chữ đường trong mía Việt Nam cũng thấp, chỉ đạt 9-10% trong khi của các nước thành viên TPP là 12-13%. Các nước TPP đã có công nghệ chế biến đường hiện đại, còn ta chỉ có 1/3 số doanh nghiệp lớn được trang bị các máy móc tiên tiến, còn lại đa phần các doanh nghiệp mía đường đều sử dụng công nghệ lạc hậu. Đây chính là yếu tố khiến ngành mía đường nội địa khó cạnh tranh khi hội nhập sâu.
Theo GS Võ Tòng Xuân,  ngành mía đường Việt Nam đang yếu thế trên mọi mặt, đó là thực trạng mà các doanh nghiệp, Hiệp hội Mía đường và các nhà quản lý cần thẳng thắn nhìn nhận để đối mặt với những thử thách khi lộ trình cam kết hội nhập ASEAN và cả TPP đã cận kề.
Doanh nghiệp mía đường phải tìm cách hạ giá thành sản xuất, giảm chi phí đi đôi với tăng năng suất thì mới tăng được tính cạnh tranh ngay trên sân nhà. “Hiệu quả mà các nước trồng mía trên thế giới có được không chỉ nhờ kỹ thuật hiện đại mà nhờ vào những biện pháp canh tác hết sức đơn giản. Gia nhập TPP chúng ta hãy học chính các nước như Mỹ, Australia… về cách trồng mía và làm đường để vươn lên”- GS Xuân cho biết.
Hầu hết đại diện các doanh nghiệp mía đường đều nhận định, gia nhập TPP, bên cạnh những khó khăn, thách thức nêu trên, ngành mía đường cũng có cơ hội đáng kể để cải thiện tình hình sản xuất trong nước.
Cụ thể, ngành mía đường có thể tận dụng thuế suất xuất khẩu 0% từ 11 quốc gia có nền công nghiệp phát triển, ngành mía đường Việt Nam có cơ hội nhập khẩu máy móc hiện đại phục vụ cho chế biến. Hay nhập giống từ các nước như Australia để cải thiện tình hình giống mía trong nước. Việt Nam và Australia mới đây đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác thời hạn 10 năm giữa Viện Nghiên cứu đường Australia SRA) và Viện Nghiên cứu mía đường Việt Nam (SRI). Theo đó, các nhà nghiên cứu mỗi quốc gia sẽ cung cấp cho bên đối tác một danh sách 10 loại giống mía đường để trao đổi. Sự hợp tác này sẽ mang lại lợi ích cho hai nước trong việc hạn chế sâu bệnh, nâng cao năng suất, chất lượng cho cây mía.

    

Cấm đưa khoai tây Trung Quốc vào bán tại Chợ nông sản Đà Lạt

Chiều 20/10, một số tiểu thương kinh doanh khoai tây Trung Quốc tại Chợ nông sản Đà Lạt, phường 11, thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) bức xúc trước việc Ban quản lý chợ không cho phép đưa khoai tây Trung Quốc vào Chợ nông sản Đà Lạt.


Từng bịch khoai tây Trung Quốc được dán mác khoai tây Đà Lạt chuẩn bị được chuyển lên xe tải để cung cấp cho chợ đầu mối các tỉnh. (Ảnh: Nguyễn Dũng/TTXVN)
Từng bịch khoai tây Trung Quốc được dán mác khoai tây Đà Lạt chuẩn bị được chuyển lên xe tải để cung cấp cho chợ đầu mối các tỉnh. (Ảnh: Nguyễn Dũng/TTXVN)
Lô khoai tây Trung Quốc 30 tấn của bà Nguyễn Thị Vân, một trong 24 hộ kinh doanh tại Chợ nông sản Đà Lạt, nhập về chợ đã bị Ban quản lý ngăn, không cho đưa vào bán.
Bà Vân cho hay lô hàng này có đầy đủ giấy tờ hợp pháp, việc ban hành văn bản trên của thành phố Đà Lạt khiến nhiều tiểu thương có thể lâm vào hoàn cảnh khó khăn khi hàng không thể vào chợ.
Bà Vân cho biết chỉ mới biết đến văn bản này vào buổi sáng và nếu không đưa được hàng vào chợ thì có thể bị thiệt hại hơn 100 triệu đồng.
Tại văn bản số 5827/Ủy ban Nhân dân ngày 8/10/2015 của Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Lạt chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội 3 tháng cuối năm 2015 nêu rõ: “Đặc biệt xử lý triệt để tình trạng dùng khoai tây Trung Quốc giả khoai tây Đà Lạt, cương quyết không cho nhập khoai tây Trung Quốc vào chợ đầu mối nông sản của thành phố để giả mạo khoai tây Đà Lạt phân phối đi nơi khác.”
Theo Trưởng phòng kinh tế thành phố Đà Lạt Dương Ngọc Đức, đây là một chủ trương nhằm ngăn chặn tình trạng “đội lốt” nông sản Đà Lạt, chợ Đà Lạt chỉ có thể kinh doanh nông sản của địa phương và các đặc sản của Lâm Đồng.
Chủ trương cấm khoai tây Trung Quốc vào Chợ nông sản Đà Lạt tại văn bản trên nhằm ngăn chặn tình trạng vựa nhập khoai tây Trung Quốc rồi trộn đất đỏ làm đổi màu. Sau đó, khoai tây Trung Quốc được bán ra thị trường bằng thương hiệu “khoai tây Đà Lạt” với giá cao hơn nhiều lần.
Đây là hành vi gian lận thương mại đánh lừa người tiêu dùng đồng thời gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, thương hiệu của khoai tây Đà Lạt. Tuy nhiên, các hộ kinh doanh tại đây cho rằng ngày 20/10 họ mới được phổ biến nội dung văn bản này phải thực hiện ngay nên "trở tay không kịp."
Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng, trong vòng 3 tháng qua, đã có 1.063 tấn khoai tây Trung Quốc được nhập về Chợ nông sản Đà Lạt. Đó là chưa kể lượng khoai tây Trung Quốc được nhập về Lâm Đồng nhưng không đưa vào chợ nông sản Đà Lạt mà tập trung tại các huyện Đức Trọng, Đơn Dương và nhiều cơ sở vùng ven thành phố Đà Lạt.
Chợ nông sản Đà Lạt có tổng cộng 75 hộ đang kinh doanh, trong đó tới 24 hộ là kinh doanh khoai tây. Vào thời điểm khoai tây Đà Lạt khan hiếm hoặc giá cao như hiện nay, gần như 100% các hộ này đều kinh doanh khoai tây Trung Quốc./.

    

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Nghịch lý lãi suất

Lạm phát từ đầu năm đến nay tăng chưa tới 1% nhưng lãi suất không hề giảm, các doanh nghiệp đang phải vay vốn với chi phí cao

Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 giảm 0,21% so với tháng trước và đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm có mức CPI âm. Như vậy, từ đầu năm đến nay, lạm phát chỉ tăng 0,4% và tăng 0,74% so với cùng kỳ.
Gánh nặng chi phí, khó cạnh tranh
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng lạm phát chưa bao giờ ở mức thấp như hiện nay. Dự báo lạm phát cả năm cũng chỉ xoay quanh 2%. Nhưng, lãi suất ngân hàng lại đang quá cao, các doanh nghiệp (DN) vẫn phải vay từ 7-8%/năm thậm chí có một số khoản vay lãi suất lên tới 10-12%/năm khiến gánh nặng tài chính không nhỏ.
“Một số chuyên gia nói lãi suất giữ được ở mức này đã là rất tốt nhưng tôi vẫn kỳ vọng có thể hạ thêm nhằm giúp DN bớt gánh nặng chi phí vì nếu tính ra lãi suất thực (lãi suất cho vay bình quân - lạm phát) ở mức 5%/năm như hiện nay là quá cao” - ông Lộc phân tích.
Rất nhiều DN chia sẻ mục tiêu của năm nay chỉ là hoạt động để nuôi công nhân, duy trì thị phần, không bị lỗ và cầm cự chờ cơ hội chứ không hướng đến lợi nhuận. Chưa kể, khi chi phí lãi vay vẫn lớn, DN “không có cửa” cạnh tranh với nước ngoài thời hội nhập, không ít DN đã lắc đầu ngao ngán. Nếu so với vài năm trước, mức lãi suất đã giảm nhiều nhưng rất khó cho DN nếu đặt trong bối cảnh cạnh tranh với các nước lân cận như Thái Lan, Malaysia, Indonesia… chỉ vay vốn với lãi suất từ 2-3%/năm.

Lạm phát giảm nhưng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, đẩy doanh nghiệp vào thế khó. Trong ảnh: Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Đông Á. Ảnh: Tấn Thạnh
Lạm phát giảm nhưng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, đẩy doanh nghiệp vào thế khó. Trong ảnh: Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Đông Á. Ảnh: Tấn Thạnh
“Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành chính thức từ cuối năm nay, hàng hóa các nước Đông Nam Á tràn vào Việt Nam mà không còn vướng rào cản nào về thuế suất. Với DN xuất khẩu, chúng tôi cũng đang phải cạnh tranh gay gắt ở các thị trường khi nhu cầu sụt giảm, buộc phải tính toán lại giá thành nhưng với mức lãi suất như hiện nay thì rất khó” - ông Ngô Đức Hòa, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Dệt may quốc tế Thắng Lợi, băn khoăn.
Còn nhớ vào thời điểm năm 2010-2012, khi lạm phát ở mức cao, một số DN phải vay với lãi suất hơn 20%/năm. Khi lạm phát được kiểm soát, rất nhiều DN kiến nghị giảm lãi suất các khoản vay cũ để hỗ trợ bớt gánh nặng chi phí tài chính nhưng không ít ngân hàng (NH) lập luận phải có độ trễ hoặc lạm phát vẫn còn ở mức rất cao. Nay lạm phát đang thấp nhất trong nhiều năm, lãi suất vẫn giảm chậm. Lãnh đạo nhiều NH lý giải lạm phát chỉ là một yếu tố trong bài toán hạ lãi suất.
Tổng giám đốc một NH cổ phần tại TP HCM cho rằng giảm lãi suất cho vay phải nhìn vào lãi suất huy động. Hiện lãi suất tiền gửi các kỳ hạn phổ biến từ 4-7%/năm là khá hợp lý và rất khó giảm thêm.
“Nếu lãi suất huy động quá thấp, dòng vốn tiết kiệm vào NH có thể dịch chuyển qua các kênh khác, mua vàng, USD hoặc chứng khoán, bất động sản… Khi dòng tiền gửi bị thiếu hụt buộc NH phải tăng lãi suất để huy động để hút vốn, đây là một bài toán khó” - vị tổng giám đốc này phân trần.
Phó tổng giám đốc một NH cổ phần quy mô lớn khác lại cho rằng một rào cản khác cũng khiến lãi suất huy động khó giảm sâu, là thói quen và tâm lý người gửi tiền ở Việt Nam luôn thích lãi suất tiết kiệm cao và thực dương. Chỉ cần thấy gửi tiền vào NH lãi suất không đủ hấp dẫn là khách hàng sẵn sàng tìm kênh khác, nên mỗi NH đều phải cân nhắc.
Làn sóng tăng lãi suất?
Trong một diễn biến khác, hàng loạt NH thương mại cổ phần vừa thay đổi biểu lãi suất huy động theo hướng tăng nhẹ từ 0,1-0,2%/năm. Tại NH TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), biểu lãi suất huy động mới nhất vừa được áp dụng từ ngày 1/10, với một số kỳ hạn tăng thêm 0,1-0,2%/năm. Hiện lãi suất gửi tiết kiệm kỳ hạn 6, 7 tháng tại Sacombank là 5,5%/năm và kỳ hạn 12 tháng ở mức 6,3%/năm...
Quyền Tổng Giám đốc NH TMCP An Bình (ABBANK), ông Cù Anh Tuấn, thừa nhận có hiện tượng tăng lãi suất ở một số NH nhưng chưa hẳn tạo thành làn sóng. Phía ABBANK cũng điều chỉnh nhưng chủ yếu là cơ cấu lại nguồn vốn ở các kỳ hạn, khuyến khích khách hàng gửi tiền kỳ hạn dài hơn.
“Với một số NH, có thể trước đây họ để trạng thái tiền gửi USD âm do tỉ giá ổn định nhưng từ tháng 8 đến nay, tỉ giá được điều chỉnh tăng và biến động mạnh buộc những NH này phải dùng tiền đồng mua lại USD nhằm cân bằng trạng thái. Lúc này, tiền đồng trong NH sẽ bị thiếu hụt tạm thời nên phải tăng lãi suất để huy động bù đắp vào” - ông Tuấn lý giải.
Phó tổng giám đốc một NH cổ phần tại TP HCM cho biết trong 2 tháng qua, tình hình huy động vốn bằng VNĐ có chững lại, trong khi nhu cầu vay vốn từ nay đến cuối năm dự kiến sẽ tăng cao. Thời điểm tháng 8, khi tỉ giá USD/VNĐ biến động do tác động từ đồng nhân dân tệ giảm giá, dòng tiền trong các NH thương mại đã có sự dịch chuyển khá mạnh từ VNĐ sang USD. Tiền gửi bằng ngoại tệ tăng đột biến, nhu cầu USD trên thị trường tăng cao buộc NH Nhà nước phải bán ngoại tệ can thiệp, điều này một phần làm VNĐ thêm thiếu hụt trên thị trường, thúc đẩy một số NH điều chỉnh nhích nhẹ lãi suất huy động.
Mức điều chỉnh nhích nhẹ lãi suất huy động sẽ không ảnh hưởng đến việc tăng lãi suất cho vay nhưng lãnh đạo nhiều NH thừa nhận lãi suất cho vay cũng rất khó để giảm thêm trong thời gian tới. Bởi còn phụ thuộc rất lớn vào sức khỏe, tình hình tài chính và các dự án khả thi của DN. Với một DN minh bạch về tài chính, như các DN trên sàn niêm yết bao giờ cũng được NH đánh giá tốt hơn và được vay với lãi suất thấp hơn. “Việc DN hưởng lãi suất vay bao nhiêu phụ thuộc vào năng lực quản trị, rủi ro dự án bởi trên thực tế chúng tôi sẵn sàng cho vay mức 6%-7%/năm với những khách hàng tốt và có những DN sẽ phải vay lãi suất 9%-10%/năm, tùy thuộc vào kỳ hạn và chất lượng tín dụng” - ông Cù Anh Tuấn lý giải.


Ai hưởng lợi khi thị trường tài chính tiêu dùng phát triển?

Thị trường tài chính tiêu dùng của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh giúp gia tăng độ tiếp cận dịch vụ tín dụng, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng có thu nhập thấp.

Vay tiêu dùng, xu hướng tất yếu
Khảo sát hoạt động cho vay tiêu dùng trên thế giới cho thấy, đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng là xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Tính đến đầu năm 2014, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng tại thị trường Mỹ đã vượt 3.800 tỷ USD (chiếm hơn 21% GDP), chưa bao gồm dư nợ cho vay thế chấp nhà. Còn tại thị trường Đức  cho vay tiêu dùng cũng chiếm tới 10,5% GDP; con số này ở Anh là hơn 15,6% GDP; ở Pháp là khoảng 10% GDP…
Tại châu Á, Malaysia là quốc gia có thị trường tín dụng tiêu dùng phát triển rất ấn tượng với quy mô lên tới 24% GDP. Trong khi tại Việt Nam, báo cáo mới nhất được thực hiện bởi công ty CP StoxPlus cho biết, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng trong hệ thống các tổ chức tín dụng năm năm 2014 khoảng 10,4 tỷ USD, tăng 1,6 tỷ USD so với năm 2014, chiếm khoảng 5-6%GDP.

Thị trường tài chính tiêu dùng của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh
Thị trường tài chính tiêu dùng của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh
Theo đó, StoxPlus nhận định, thị trường tài chính tiêu dùng của Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, do sự chuyển hướng mạnh từ tín dụng doanh nghiệp sang tín dụng tiêu dùng trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn trong giai đoạn 2012- 2014.
TS Trần Hoàng Ngân, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế Quốc hội, Hiệu trưởng trường ĐH Tài chính - Marketing TP HCM đưa ra dự báo, cho vay tiêu dùng tại Việt Nam nhiều khả năng sẽ vượt qua con số 10% GDP vào năm 2020.
Sự ra đời của hoạt động cho vay tiêu dùng là một kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế. Ở những giai đoạn trước đây, nhu cầu vay tiêu dùng đã luôn tồn tại, song sự kém linh hoạt của các cơ chế cho vay và trả nợ, khi mà các sản phẩm cho vay còn đơn điệu và kém phù hợp, đã khiến cho các nhu cầu vay tiêu dùng không được đáp ứng. Tuy nhiên đến nay khi thị trường tài chính ngày càng phát triển, các TCTD phát triển đa dạng hướng đến nhiều nhu cầu khác nhau của nhiều phân khúc khách hàng khác nhau, thì các nhu cầu này đã bắt đầu được chú trọng.
Ai hưởng lợi khi vay tiêu dùng phát triển?
Sự phát triển của thị trường tài chính tiêu dùng mang lại nhiều cơ hội hơn cho các cá nhân có nhu cầu tiêu dùng khi năng lực tài chính chưa đủ để trang trải nhu cầu. Sự phát triển của các hoạt động cho vay tiêu dùng cho thấy không chỉ có ý nghĩa đối với từng cá nhân mà còn mang lại những tác động tích cực cho toàn xã hội. Với nhóm đối tượng thu nhập thấp, khó tiếp cận được với nguồn vốn của các ngân hàng thương mại thì nguồn vốn vay từ các công ty tài chính giúp người dân có thể chủ động trong chi tiêu, cải thiện chất lượng cuộc sống và gia tăng công bằng xã hội.
Việc phát triển tín dụng tiêu dùng còn góp phần gia tăng sự hiểu biết về tài chính cho các nhóm khách hàng mới, tầng lớp dân cư ít tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, giúp họ có kiến thức quản lý tốt hơn các giao dịch tài chính cá nhân, cũng như tạo nền tảng để họ có thể sẵn sàng sử dụng các dịch vụ tài chính khác, bao gồm cả các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Sự phát triển của thị trường tín dụng tiêu dùng còn góp phần đẩy lùi nạn “tín dụng đen” và giúp người dân được sử dụng các dịch vụ tài chính an toàn từ các tổ chức hợp pháp có sự quản lý và bảo vệ từ các cơ quan quản lý nhà nước.


Vàng “quay đầu” giảm giá, chênh lệch nới rộng

Phiên giao dịch sáng nay 5/10, giá vàng SJC “quay đầu” giảm giá, sau khi đã đồng loạt tăng vọt vào cuối tuần qua. Theo đó, khoảng cách chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới được nới rộng lên mức 3,1 triệu đồng/lượng.
Lúc 9h40 sáng nay 5/10, giá vàng miếng SJC tại Hà Nội được các doanh nghiệp vàng lớn niêm yết giao dịch phổ biến ở mức 33,85 triệu đồng/lượng (mua vào) - 33,93 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm nhẹ 20.000 đồng/lượng so với chốt phiên giao dịch cuối tuần qua.
Tại TPHCM, giá vàng miếng SJC giảm mỗi chiều 20.000 đồng và 70.000 đồng/lượng, xuống mức 22,73 triệu đồng/lượng - 33,95 triệu đồng/lượng.
Hiện giá vàng thế giới quy đổi là 30,84 triệu đồng/lượng. Theo đó, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 3,1 triệu đồng/lượng, nới 100.000 đồng/lượng so với cuối tuần trước.


Vàng “quay đầu” giảm giá, chênh lệch nới rộng (ảnh minh hoạ).
Vàng “quay đầu” giảm giá, chênh lệch nới rộng (ảnh minh hoạ).

Tuần qua, giá vàng SJC diễn biến theo xu hướng đi xuống và tính chung cả tuần, giá kim loại quý giảm tổng cộng 140.000 đồng/lượng.
Đóng cửa phiên cuối tuần, trước sự “leo thang” của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng có bước tăng giá trở lại nhưng mức tăng chưa tương xứng. Khi giá quay đầu tăng trở lại, các nhà đầu tư nhỏ lẻ tranh thủ “bán xả” hàng ra trước ngày nghỉ cuối tuần.
Trên thế giới, giá vàng giao ngay tại châu Á hiện có biên độ giảm 1,5 USD, giao dịch ở mức 1.136,9 USD/ounce.
Đóng cửa thị trường cuối tuần trước, giá vàng giao ngay tăng 24,9 USD, lên mức 1.138,4 USD/ounce; giá vàng giao tháng 12 đạt mức 1.136,6 USD/ounce sau khi cộng gần 23 USD/ounce. Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá giảm 0,8%.
Tuần qua, thông tin về số liệu việc làm đáng thất vọng khiến giới đầu tư vàng tin rằng thời điểm Fed nâng lãi suất lần đầu trong gần một thập kỷ sẽ được lùi sang năm 2016. Bên cạnh đó, số liệu công bố hôm thứ Sáu 2/10 cũng cho thấy số đơn hàng nhà máy trong tháng 8 giảm 1,7%.
Theo kết quả khảo sát của Hãng Kitco về  giá vàng trong tuần này với sự tham gia của 20 người, 14 người cho rằng giá sẽ tăng trong khi 2 người nghĩ giá giảm,4 người còn lại dự báo giá đi ngang. Tham gia khảo sát vẫn là các nhà phân tích kỹ thuật, kinh doanh kỳ hạn, thương lái, ngân hàng đầu tư.

Nick Exarhos, nhà kinh tế cấp cao tại CIBC World Markets, cho rằng giá vàng sẽ đi lên trong ngắn hạn song song với một bức tranh kinh tế có nhiều phức tạp hơn.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons