Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Quản lý thị trường tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng

 Tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng quản lý thị trường

Tổng cục quản lý thị trường đã giảm 235 Đội và sẽ tiếp tục giảm xuống 376 đội quản lý thị trường theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường.

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, theo ông Trần Hữu Linh- Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường, ngay từ những ngày đầu được tổ chức lại, Tổng cục Quản lý thị trường đã xác định cải cách hành chính là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong mọi hoạt động.

Tính đến hiện nay, Tổng cục đã giảm được 235 Đội quản lý thị trường và sẽ tiếp tục giảm 70 đội trong năm 2020 còn 376 đội quản lý thị trường, giảm 16% theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường.

Việc tinh gọn bộ máy, giảm đội không làm giảm đi hiệu quả kiểm tra, kiểm soát mà còn tạo sự chuyển biến tích cực rõ rệt trong điều hành, quản lý. Sự chỉ đạo, quản lý tập trung, thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương đã phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường, ứng phó kịp thời đối với các diễn biến bất thường, có tác động tiêu cực trên thị trường cả nước.

Những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2019 và 7 tháng đầu năm 2020, lực lượng quản lý thị trường đã thực hiện nhiều chương trình, tổ chức triển khai kịp thời chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Công Thương trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả qua đó làm tốt việc quản lý địa bàn, kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Đồng thời, thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trong hoạt động thương mại đối với các cơ sở kinh doanh, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế sai phạm của đối tượng trong hoạt động kinh doanh.

Ông Nguyễn Kỳ Minh-Phó Chánh văn phòng Tổng cục Quản lý thị trường cho biết, thời gian gần đây, lực lượng quản lý thị trường đã tổ chức kiểm tra, xử lý các điểm nóng về kinh doanh hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại chợ Bến Thành, trung tâm thương mại Sài Gòn Square; phát hiện dấu hiệu vi phạm về kinh doanh hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại hệ thống kinh doanh mỹ phẩm Ansan Cosmetics tại TP. HCM; tấn công vào tổng kho hàng lậu hơn 10.000 m2 ở Lào Cai góp phần phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19 của lực lượng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và người dân ghi nhận, đánh giá cao.

Hơn nữa, ngay từ năm 2019, Tổng cục đã đưa vào vận hành chính thức Cổng thông tin điện tử; hệ thống quản lý văn bản điện tử; hệ thống thư điện tử công vụ; cở sở dữ liệu và quản lý công tác tài chính; cơ sở dữ liệu và thống kê xử phạt hành chính, hệ thống hội nghị trực tuyến với 64 điểm cầu (Tổng cục và 63 Cục địa phương).

Ngoài ra, Tổng cục đã xây dựng và đưa vào áp dụng chính thức phần mềm quản lý tài chính cho toàn lực lượng tại địa chỉ http://fin.dms.gov.vn/ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành ngân sách; công khai, minh bạch trong sử dụng, thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định.

Mặt khác, Tổng cục Quản lý thị trường còn thực hiện việc hiện đại hóa hành chính đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành, xử lý, trao đổi văn bản điện tử; xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ thực thi công vụ; phát triển hạ tầng kỹ thuật và áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động của Tổng cục thời gian qua, Tổng cục đã chuyển đổi, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động theo quy định.

Đối với cải cách thể chế, trong năm 2020, Tổng cục cũng được Bộ giao xây dựng 2 thông tư; đồng thời tiếp tục đăng ký xây dựng 3 thông tư vào Chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 của Bộ.
Tuy nhiên, ông Trần Hữu Linh cũng thẳng thắn chỉ ra rằng hệ thống văn bản, chính sách pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả còn chồng chéo dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng khác nhau, trong khi việc sửa đổi, bổ sung chậm, chưa tháo gỡ được khó khăn cho các lực lượng trong thực thi nhiệm vụ.

Không dừng lại ở đó, năng lực và trình độ chuyên môn của công chức quản lý thị trường chưa đồng đều, còn có công chức buông lỏng quản lý, chưa chấp hành đúng quy định trong hoạt động công vụ, dẫn đến sai sót trong quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.

Cùng với đó, lực lượng quản lý thị trường mỏng nhưng phải tổ chức quản lý, kiểm tra số lượng lớn doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đồng thời phải tham gia nhiều nhiệm vụ khác do chính quyền địa phương giao.

Hơn nữa, trang thiết bị, phương tiện nghiệp vụ của lực lượng quản lý thị trường còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhiều đội quản lý thị trường vẫn phải thuê hoặc mượn trụ sở làm việc, không có đủ phương tiện làm việc…

Do đó, ông Trần Hữu Linh kiến nghị Chính phủ xem xét, bổ sung lực lượng quản lý thị trường được sử dụng xe có tín hiệu được quyền ưu tiên trên cơ sở đánh giá, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 109/2009/NĐ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ quy định về tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.

Ngoài ra, Bộ Công Thương cần chỉ đạo các Vụ, đơn vị liên quan rà soát, đánh giá lại tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động quản lý và xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu; gas; nguyên liệu thuốc lá và các sản phẩm từ thuốc lá; rượu; thương mại điện tử trên thị trường để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý đảm bảo thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật./.

Ngân hàng Nhà nước thêm một động thái nới lỏng tiền tệ

 Thêm một động thái nới lỏng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa phát đi thông báo 3 quyết định hạ lãi suất điều hành các loại tiền gửi tại NHNN từ ngày 6/8/2020. Đây được cho là một trong những động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN.

Cụ thể, NHNN ban hành quyết định số 1349/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (TCTD) tại NHNN. Theo đó, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0,5%/năm, lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0%/năm.

Quyết định số 1350/QĐ-NHNN về mức tiền gửi bằng VNĐ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng vi mô tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi này là 0,8%/năm.

Quyết định số 1351/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi bằng VNĐ của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền  gửi tại NHNN là 0,8%/năm.

Theo NHNN, quyết định điều chỉnh lãi suất trên nằm trong chuỗi đồng bộ nhiều giải pháp điều hành chính sách tiền tệ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19.

Khi được hỏi đây có thể coi là một động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đây có thể được coi là một động thái nới lỏng tiền tệ. Bởi khi NHNN tăng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN là khuyến khích gửi tiền và hút tiền vào. Còn khi NHNN giảm lãi suất là muốn các ngân hàng đẩy lượng tiền đó vào lưu thông trên thị trường.

Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”

 Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”

Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”
Ngay ở rổ VN30, nhiều mã đại diện cho sức hấp dẫn của thị trường, hay ở nhiều ngân hàng, NĐTNN muốn đầu tư cũng chịu vì hết hoặc khóa room - Ảnh: Huyền Trâm
Như vậy, các sự kiện kỷ niệm 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) đã dần trôi qua. Nhưng, nhiều câu hỏi vẫn còn lại.
Bước qua tuổi 20, thị trường đã qua thời kỳ non trẻ, hướng tới giai đoạn trưởng thành. Vậy chứng khoán Việt cần nhìn nhận mình đang có những gì và cần hoàn thiện những gì để có sức, tạo đà phát triển mạnh mẽ, bền vững trong giai đoạn mới?
Nhiều dữ liệu thống kê cho thấy quy mô TTCKVN vẫn còn khiêm tốn trong khu vực, sự tham gia của các nhà đầu tư lớn và đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) còn hạn chế. Vây làm sao để thu hút?
Như cách nói của một số thành viên Chính phủ, chứng khoán Việt cũng cần thu hút “đại bàng” về “làm tổ”, phát triển và hướng tới mục tiêu nâng hạng. Nhưng phải làm gì và có khả thi không?
GỌI TÊN NHỮNG HẠN CHẾ
Dịp tổng kết 20 năm hoạt động vừa qua, Sở Giao dịch Chứngkhoán TP.HCM (HOSE) nêu ra những điểm hạn chế hiện nay của thị trường.
Đó là thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn non trẻ, khoảng cách với các Sở trong khu vực vẫn còn khá xa. Quy mô vốn hóa thị trường Việt Nam mới gần bằng 1/5 thị trường Phillippines, 1/7 thị trường Indonesia và 1/8 thị trường Thái Lan. Quy mô vốn hóa TTCK trên GDP còn khiêm tốn, cơ cấu giữa thị trường vốn còn mất cân đối.
Phát triển nhanh, bền vững thị trường chứng khoán, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các thành viên thị trường là một thách thức không nhỏ với HOSE và với các thành viên thị trường. Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trong nhiều doanh nghiệp niêm yết còn lớn, khiến tính thanh khoản của cổ phiếu còn hạn chế so với tiềm năng của doanh nghiệp.
HOSE cũng thừa nhận, thanh khoản trên thị trường được cải thiện nhưng vẫn tồn tại các yếu tố chưa thực sự bền vững. Giá trị giao dịch còn thấp so với các thị trường trong khu vực. Giá trị giao dịch bình quân ngày của thị trường Việt đạt 180 triệu USD, bằng 1/9 thị trường Thái Lan (1,5 tỷ USD), 1/5 thị trường Singapore (864 triệu USD), 2/3 thị trường Malaysia (244 triệu USD).
Sự tham gia của NĐTNN trong tổng giao dịch còn hạn chế. Tỷ trọng tham gia của khối ngoại trên thị trường Việt Nam theo giá trị giao dịch còn thấp, đặc biệt là các tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức chưa cao. Tại ngày 31/12/2019, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân chiếm 99,34%.
Bên cạnh đó là những hạn chế được sở này vạch ra đó là số lượng sản phẩm mới thực tế được chào bán và niêm yết trên thị trường cổ phiếu còn hạn chế, thị trường vẫn chủ yếu tập trung vào sản phẩm truyền thống là cổ phiếu; chất lượng quản trị công ty có cải thiện nhưng còn khoảng cách xa so với thị trường khu vực; quá trình cổ phần hóa và thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước còn diễn ra chậm ảnh hưởng đến nguồn cung hàng hóa cho thị trường trong thời gian qua.
Việc chưa có hướng dẫn cụ thể về việc niêm yết đối với các doanh nghiệp có nguồn gốc FDI dẫn đến việc nhiều các doanh nghiệp có nguồn gốc FDI chưa thực hiện niêm yết được trên các Sở GDCK. Việc phân định chưa rõ ràng về cấu trúc giữa các thị trường cổ phiếu, trái phiếu dẫn đến những khó khăn nhất định cho nhà đầu tư và thành viên thị trường...
 Biểu đồ VN-Index sau 20 năm phát triển - Nguồn: HOSE.
CHỈ MỘT THAY ĐỔI NHỎ CŨNG PHẢI MẤT THỜI GIAN DÀI…
Ông Phan Dũng Khánh, Giám đốc Tư vấn đầu tư, CTCK Maybank KimEng, một người gắn bó với thị trường 20 năm qua nhìn nhận, thị trường có sự trưởng thành nhất định sau 20 năm hoạt động; trong đó khoảng 10 năm trở lại đây, tiến trình cổ phần hóa đạt được nhiều kết quả tốt.
“Trước những yêu cầu DNNN cổ phần hóa thì tốc độ cổ phần hóa nhanh hơn, giúp cho thị trường có số lượng hàng hóa, là kim chỉ nam cho nền kinh tế giống như những thị trường phát triển, hầu như doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều trên sàn chứng khoán. Tôi đánh giá đây là bước phát triển tuyệt vời cho TTCK, thu hút nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức”, ông Khánh đánh giá.
Tuy nhiên, chuyên gia tài chính này cũng chỉ ra nhiều hạn chế của thị trường hiện nay.
Ông Khánh nêu, trên TTCK Việt có 3 chỉ số chính gồm VN-Index, HNX-Index và UPCoM-Index. Trong đó, chỉ số sàn HNX đã ra đời cách đây 15 năm với mốc ban đầu 100 điểm và hiện nay chỉ hơn 100 điểm, chỉ tăng hơn 10%, tức là tỷ suất là tệ, ngay cả việc gửi ngân hàng lợi nhuận còn cao hơn. UPCoM sau 11 năm, khởi đầu 100 điểm mà hiện nay chỉ số chỉ bằng một nửa.
Ông Khánh cũng chỉ ra, những chính sách, sản phẩm trên thị trường dù đã hoạt động 20 năm nhưng vẫn chậm, nghèo nàn.
Cụ thể, giai đoạn đầu, chứng khoán thực hiện thanh toán T+4, sau đó mất gần chục năm chuyển xuống T+3, tiếp đó mất 5 năm chuyển xuống T+2 nhưng thực ra cũng chỉ được T+2,5. Có nghĩa những thay đổi nhỏ mất khoảng thời gian dài.
Bên cạnh đó những sản phẩm mới như chứng khoán phái sinh nhắc đến giai đoạn năm 2003-2005 nhưng đến tận 2017 mới có, chứng quyền cũng mất thời gian dài mới đưa ra được. Mức độ trưởng thành của thị trường là có tuy nhiền cần có tốc độ nhanh hơn.
Bên cạnh đó, ông Khánh còn nêu chính sách liên quan khối ngoại. Luật Đầu tư từ 2005 đã có nhắc đến việc nới room cho khối ngoại, tuy nhiên đến tận năm 2015 mới có những văn bản, nghị định, thông tư ban hành cho phép quy định cụ thể chi tiết NĐTNN tham gia vào ở mức hạn chế đầu tư hay thoải mái.
“Có nghĩa là chúng ta có bước tiến lớn nhưng có những vấn đề khác còn chậm và nên thay đổi điều này càng sớm càng tốt để TTCK Việt sau nhiều năm kỳ vọng nâng hạng sẽ sớm được hiện thực, bởi việc nâng hạng sẽ giúp cho dòng vốn ngoại vào TTCK, với sự tham gia của những nhà đầu tư lớn”, ông Khánh nói.
Cũng theo chuyên gia này, NĐTNN ở Việt Nam hiện nay thường là nhà đầu tư nhỏ, còn nhà đầu tư lớn họ không tham gia trực tiếp vào TTCK mà chỉ tham gia theo cách đầu tư trực tiếp vào dự án, doanh nghiệp. Theo đó, việc thay đổi hạn chế trên giúp cho thị trường nâng hạng sớm, những tổ chức khổng lồ hơn, dòng vốn lớn hơn sẽ đổ vào TTCK trong thời gian tới.
LÀM GÌ ĐỂ THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ LỚN, SIÊU LỚN?
Trong bản tổng kết của mình, HOSE đã đưa ra phương hướng phát triển giai đoạn 2021-2025 với 5 điểm chính.
Theo đó, xác định xây dựng quy mô thị trường cổ phiếu 120% GDP vào năm 2025; số lượng công ty niêm yết đến năm 2020 tăng 20% so với năm 2017; triển khai các sản phẩm mới theo hướng từ đơn giản đến phức tạp, các loại chứng quyền có bảo đảm trên chỉ số/ETF, chứng quyền bán, các loại hình quỹ ETF, chứng chỉ lưu ký (DR), chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR); phát triển thêm các chỉ số cơ sở để làm tài sản cơ sở cho thị trường chứng khoán phái sinh.
Đồng thời, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đưa hệ thống công nghệ thông tin mới vào hoạt động đồng bộ tại hai Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký phục vụ quản lý, giám sát giao dịch, thanh toán bù trừ cho toàn thị trường; chú trọng phát triển bền vững và nâng cao minh bạch, chất lượng công ty niêm yết, hướng đến chất lượng quản trị công ty trong các công ty niêm yết của Việt Nam đạt mức bình quân ASEAN-6…
Còn với thành viên trên thị trường, ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao của CTCK KIS Việt Nam cho rằng, ít nhất có 2 điểm cần làm: một là rút ngắn kỳ thanh toán, hai là nới room cho khối ngoại.
Trong đó, khâu thanh toán là một trong những tiêu chí then chốt, hiện vẫn T+3 đối với chứng khoán, T+2 đối với tiền đang hạn chế khả năng nâng hạng thị trường, chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư.
Tương tự với vấn đề nới room khối ngoại, ông Phương cho rằng cần mở rộng. Trong đó có giải pháp phụ đi kèm là có thể cân nhắc cung cấp cho nhà đầu tư lựa chọn đầu tư cổ phiếu không có quyền biểu quyết. Nếu làm tốt sản phẩm này thì phần nào giải được tiêu chí hạn chế room cho khối ngoại.
“Có những NĐTNN có nguồn vốn lớn, vài trăm triệu USD thậm chí tỷ USD, khi họ muốn đầu tư vào thì phải ngắm vào doanh nghiệp lớn, có tính thanh khoản cao, có thương hiệu. Thường là những doanh nghiệp nằm trong rổ VN30 nhưng điểm lại nhóm này doanh nghiệp thực sự tốt, có thương hiệu thì gần như hết room, còn lại thì rất ít không đáp ứng giải ngân nguồn vốn lớn”, ông Phương nêu thực tế hiện nay ở nhiều doanh nghiệp tốt mà “đại bàng” muốn về “làm tổ” cũng chịu.
Qua thời non trẻ, chứng khoán Việt cần hành động để hướng tới giai đoạn mới - Ảnh: Huyền Trâm.
Cũng đề cập tới việc hút vốn ngoại, ông Phan Dũng Khánh cho rằng cần hạn chế việc đầu cơ trên thị trường hiện nay.
Ông Khánh phân tích, yếu tố đầu cơ thị trường nào cũng có, nhìn một mặt nào đó yếu tố đầu cơ còn tốt vì với mức độ vừa phải sẽ giúp cho thị trường có sự thanh khoản. Nếu ai cũng đầu tư dài hạn thì không có yếu tố thanh khoản. Nhưng ở TTCK Việt yếu tố đầu cơ là lớn, gắn với cả vi phạm trong khi chế tài xử lý còn nhẹ.
Chuyên gia này lấy ví dụ, có những trường hợp một số lãnh đạo doanh nghiệp bán chui cổ phiếu, vi phạm quy định thu khoản lợi lớn hàng trăm tỷ mà phức phạt thấp thì vẫn “tạo điều kiện” cho họ. Bên cạnh đó, cổ phiếu của doanh nghiệp kết quả kinh doanh liên tục đi xuống mà giá vẫn đi lên tức là có hiện tượng thao túng, lũng đoạn nhưng vẫn xảy ra khá thường xuyên trên TTCK.
Theo ông Khánh, nhiều nhà đầu tư nhìn vào sẽ thấy bức tranh có gam màu tối, giảm đi sức hút trong mắt họ, đặc biệt là những nhà đầu tư lớn, siêu lớn. Nên nếu khắc phục thêm việc này thì dòng vốn còn đổ thêm vào thị trường.
“Các chính sách minh bạch thu hút dòng vốn, cộng thêm hiện nay chúng ta có lợi thế lớn là mở cửa lại kinh tế, kiểm soát dịch tốt, các định chế tài chính lớn, HSBC, Fitch… đánh giá Việt Nam phục hồi kinh tế tốt, là điểm sáng của châu Á. Những đánh giá giúp cho dòng vốn ngoại dễ chảy vào Việt Nam hơn. Nhưng việc chảy vào cũng phụ thuộc vào chúng ta mở cửa ở mức độ nào, bên cạnh đó những vấn đề tôi nêu ở trên. Tôi gọi đây là thời điểm vàng chúng ta giúp cho TTCK Việt nâng hạng cũng như giúp nền kinh tế bay cao, bay xa hơn”, ông Phan Dũng Khánh nói.

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu

 Lãi suất tiết kiệm tiếp tục giảm, nhiều ngân hàng đang thừa tiền.

Gửi tiết kiệm còn hấp dẫn?

Tại 4 ngân hàng thương mại lớn có vốn Nhà nước, lãi suất huy động hiện giữ nguyên so với tháng 7/2020. Nằm trong khoảng từ 3,7%-6,1%/năm với các kỳ hạn từ 1-36 tháng. 

Cụ thể, các ngân hàng BIDV, Vietinbank và Agribank có biểu lãi suất huy động 1-36 tháng từ 3,7%-6%/năm. Mức lãi suất 6%/năm thuộc về các kỳ hạn từ 12-36 tháng. Vietcombank áp dụng biểu lãi suất tương tự so với 3 ngân hàng trên, riêng gửi tiết kiệm tại kì hạn 24 tháng được hưởng lãi suất 6,1%/năm.

Với các ngân hàng thương mại cổ phần, lãi suất nhiều kỳ hạn tiếp tục giảm. Techcombank ngay đầu tháng 8 đã giảm lãi suất từ 0,2-0,3 điểm % so với tháng trước với kỳ hạn từ 1 đến 36 tháng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cũng điều chỉnh giảm 0,3 điểm phần trăm tại nhiều kì hạn gửi từ 1 đến 36 tháng. Lãi suất huy động cao nhất tại hình thức gửi tiết kiệm thông thường vẫn được duy trì ở mức 7,7% khi gửi tiền tại kì hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kì.

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu
Các ngân hàng đều giảm lãi suất huy động từ tháng 8

Ngân hàng ACB các khoản tiền kì hạn 1 tháng được điều chỉnh giảm từ 0,3-0,45 điểm % so với đầu tháng 7 và dao động trong khoảng từ 3,7%-3,8%/năm. ACB giảm 0,5 điểm % và 0,6 điểm % lần lượt cho các khoản tiền gửi kì hạn 6 tháng và 9 tháng, lãi suất dao động từ 5,3%-5,6%/năm. Đối với kì hạn 12 tháng, lãi suất giảm 0,5 điểm % so với đầu tháng 7, niêm yết ở mức 5,7%-6%/năm. Khách hàng gửi từ 30 tỷ đồng trở lên kì hạn 13 tháng sẽ được hưởng lãi suất  7,5%/năm.

Lãi suất ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank) cũng điều chỉnh giảm tại đa số các kì hạn so với đầu tháng 7. Với hình thức tiết kiệm truyền thống lĩnh lãi cuối kì, lãi suất tại VietBank dao động từ 3,9%-8%/năm tại các kì hạn từ 1-36 tháng. Riêng kì hạn 13 tháng, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi nhất hiện nay là 8%/năm với điều kiện gửi từ 500 tỷ đồng trở lên theo hình thức lĩnh lãi cuối kì.

Với hình thức gửi tiết kiệm online, lãi suất tại các ngân hàng đều cao hơn so với gửi tại quầy từ 0,3 đến 1,2 điểm % tùy từng ngân hàng. Mức lãi suất gửi online cao nhất tại một số ngân hàng như Việt Á, NCB lên tới 8-8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và khoảng 7,5-7,6% với kỳ hạn 7 tháng.

Lãi vay khó giảm

 

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 28/7, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,45% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ tăng 7,13%). Đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong khi đó, huy động vốn tăng 5,31%. Nhiều ngân hàng có tăng trưởng tín dụng thấp và thanh khoản dồi dào.

Lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã giảm và ở mức thấp, liệu lãi suất cho vay có giảm tiếp?

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu
Lãi suất cho vay khó giảm do không còn nhiều dư địa

Ý kiến của giới chuyên môn cho rằng, không có nhiều dư địa để hạ lãi suất cho vay. Dư địa tiền tệ phụ thuộc vào chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát, khoảng chênh lệch này càng lớn thì dư địa càng nhiều. Lãi suất điều hành của Việt Nam đang dao động từ 3% (lãi suất chiết khấu 3%) đến 4,5% (lãi suất tái cấp vốn), xen giữa đó là trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn (4,25%). Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm là 4,19%. Như vậy, chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát (lãi suất thực) là rất nhỏ, đồng nghĩa với dư địa còn rất hẹp.

Muốn giảm lãi suất thêm, Việt Nam cần phải giảm được tỷ lệ lạm phát. Nếu cố ép lãi suất xuống ngang lạm phát hoặc thấp hơn lạm phát, tiền sẽ chảy qua các kênh khác như trái phiếu DN, vàng, bất động sản có thể đẩy giá các thị trường này lên, hình thành “bong bóng”. Nếu điều đó xảy ra sẽ gây rủi ro cho nền kinh tế, khiến quá trình hồi phục trở nên khó khăn, đồng thời tác động xấu trực tiếp tới nhóm người có thu nhập trung bình và thấp trong xã hội.

Một số ngân hàng thương mại cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay có thể sẽ giảm thêm lãi suất cho vay, nhưng mức giảm không nhiều. Thời gian qua, ngân hàng giảm lãi vay chủ yếu là chấp nhận hy sinh lợi nhuận để hỗ trợ DN. Tuy vậy, ngân hàng chỉ có thể giảm lãi suất đến mức độ nhất định do phải bảo toàn vốn cho người gửi tiền.

Giới chuyên môn nhận định, việc các ca lây nhiễm Covid-19 xuất hiện trở lại trong cộng đồng từ cuối tháng 7 có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng kinh doanh. Để cứu DN, việc đưa ra giải pháp đột phá về lãi suất, tín dụng là cần thiết, như các gói vay lãi suất 0% cho các ngành hàng không, du lịch,... Tuy nhiên, các gói vay này - nếu có - lại liên quan đến tài khóa, chứ không phải chính sách tiền tệ, vì sử dụng tiền ngân sách, ngân hàng chỉ là nơi giải ngân hộ.

Về phía ngân hàng, kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh quý 3/2020 của các tổ chức tín dụng (TCTD) do Vụ Dự báo - Thống kê Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện cho thấy, tỷ lệ các TCTD nhận định kết quả hoạt động kinh doanh trong quý 3 cải thiện hơn so với quý trước giảm mạnh, từ mức 47% tại thời điểm tháng 3/2020 xuống mức 32% tại kỳ điều tra. Trong đó, có 15,3% TCTD lo ngại kết quả hoạt động kinh doanh sẽ suy giảm. Tuy nhiên, điều tra này được thực hiện khi dịch Covid-19 chưa quay trở lại.

Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm

 Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm và bức tranh triển vọng "màu xám"

Chuyên gia kinh tế cao cấp Stephen Bartholomeusz của tờ Sydney Morning Herald nhận định, dịch bệnh vẫn đang lan rộng tại Mỹ. Các quan chức y tế cấp cao của quốc gia này cảnh báo rằng đại dịch đang bước vào một giai đoạn mới, thậm chí lan rộng hơn.

Quốc hội với Nhà Trắng vẫn tiếp tục tranh cãi về các điều khoản của gói cứu trợ mới, thay cho gói cũ đã hết hạn vào ngày 31/7. Điều đó khiến cho sự lạc quan trên các thị trường chứng khoán dường như không có cơ sở.
Mặc dù có khá nhiều nhận định tiên đoán rằng kinh tế thế giới trong quý II/2020 sẽ chứng kiến "điểm rơi" thấp nhất, giữa bối cảnh dịch bệnh gây ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống sức khỏe và kinh tế toàn cầu, nhưng những con số thực tế vừa được công bố trên toàn cầu vẫn tạo ra một cú sốc khó tưởng tượng.
Mỹ đã trải qua một đợt "sụt giảm" kinh tế lớn nhất kể từ năm 1947 - giai đoạn nội chiến, với mức giảm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý II/2020 là 9,5% so với quý trước đó, tương đương mức giảm kỷ lục 32,9% so với cùng kỳ năm ngoái. 
Kết quả kinh tế tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) thậm chí còn tồi tệ hơn nữa, GDP quý II/2020 giảm 12,1% so với quý trước đó, đưa tổng mức sụt giảm tăng trưởng cả năm lên khoảng 40%. Trước đó, vào quý I/2020, khi các tác động kinh tế do đại dịch gây ảnh hưởng mới chỉ bắt đầu, GDP của Eurozone đã giảm 3,6%.
Trong số các thành viên của Eurozone, Tây Ban Nha chứng kiến mức suy giảm GDP quý II/2020 lớn nhất là 18,5%, Italy là 12,4%, Pháp là gần 14% và Đức - nền kinh tế số một châu Âu - giảm 10,1%.
Tuy nhiên, Eurozone hiện đã mở cửa trở lại các nền kinh tế của mình, mặc dù vẫn còn thận trọng, nhưng có khả năng khu vực này sẽ vượt qua "điểm đáy" nếu dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát.
Triển vọng của Mỹ, vốn rất quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu, lại mờ mịt và càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đối lập giữa đảng Dân chủ, đảng Cộng hòa và Nhà Trắng, trong việc lên kế hoạch cho gói cứu trợ mới.
Mỹ, sau những nỗ lực kiểm soát dịch bệnh tại các khu vực điểm nóng ban đầu, dường như cho thấy sự tái khởi động kinh tế Mỹ. Khoảng 7,5 triệu trong số 20 triệu việc làm bị mất trong tháng Tư đã được khôi phục vào tháng Năm và Sáu, làm dấy lên hy vọng về một sự phục hồi hình chữ V (suy giảm mạnh và bật tăng mạnh trở lại ngay sau khi chạm đáy).
Tuy nhiên, một số lượng việc làm đã được khôi phục có khả năng sẽ lại biến mất, với báo cáo việc làm công bố ngày 31/7 cho thấy con số thất nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng.
Nếu Quốc hội Mỹ không thể đồng ý với một gói kích thích/cứu trợ mới, hoặc Đảng Cộng hòa theo đuổi một giải pháp khác và mức hỗ trợ thu nhập theo kế hoạch ban đầu để đối phó với đại dịch sẽ bị thu hẹp 2/3, thì tác động đối với việc làm và nền kinh tế rộng hơn của cường quốc lớn nhất thế giới là hoàn toàn có thể hình dung được, nhưng không phải theo chiều hướng tích cực.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), vốn luôn thúc giục Quốc hội cung cấp nhiều kích thích hơn, đã cho thấy một vấn đề rõ ràng rằng số phận của nền kinh tế Mỹ phụ thuộc nghiêm trọng vào tiến trình lây lan của dịch bệnh. Ngân hàng trung ương đang tiếp tục lên kế hoạch cho một kịch bản tồi tệ nhất, mặc dù trước đó đã áp dụng hành động "chưa từng có" để cố gắng bảo vệ nền kinh tế và hệ thống tài chính Mỹ.
Thị trường chứng khoán Mỹ, tâm điểm định hướng cho các thị trường chứng khoán trên toàn cầu, đã giao dịch "nhiệt tình" như thể virus là một cái gì đó không đáng lo ngại, bất chấp nhiều cảnh báo được đưa ra cho thấy doanh thu quý II/2020 của các tập đoàn sẽ giảm trung bình 37%.
Ngược lại, chứng khoán tương lai - trái phiếu kho bạc 10 năm - của Mỹ chứng kiến mức lợi suất -1,03% vào ngày 31/7, cho thấy những dấu hiệu của mức lãi suất thấp và tăng trưởng yếu trong vài năm tới.
Những gì thể hiện trên thị trường trái phiếu cho thấy không có kỳ vọng nào về quá trình phục hồi hình chữ V hay hình chữ U, hay thậm chí là bất cứ thứ gì khác, ngoại trừ sự quay trở lại của một tiến trình tăng trưởng khiêm tốn kéo dài vài năm.
Tại Australia, trái phiếu kho bạc 10 năm hiện có lợi suất đạt khoảng 0,8% và rất có khả năng sẽ sớm sụt giảm trong thực tế. Chỉ số giá tiêu dùng CPI của quý II/2020 đã giảm 1,9% do tác động tồi tệ của đại dịch gây ảnh hưởng tới giá xăng dầu và dịch vụ giáo dục.
Điểm sáng duy nhất trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, với số liệu công bố vào ngày 31/7 là của Trung Quốc, nơi mà một cuộc khảo sát của các nhà quản lý nhà máy đã cho thấy hoạt động sản xuất tăng trưởng trong tháng thứ ba liên tiếp.
Tuy nhiên, Trung Quốc - ngay cả khi không gia tăng căng thẳng ngày càng sâu rộng với Mỹ - cũng khó có thể đảm bảo cho sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Các thị trường chứng khoán đã không còn được xem là phong vũ biểu cho thể trạng kinh tế toàn cầu, khi mà sự lạc quan bị tận dụng một cách nhầm lẫn. Thậm chí ngay cả khi vắc-xin để chống lại virus SARS-CoV-2 được bào chế thành công và phân phối rộng rãi, nhanh chóng tới mọi quốc gia, thì thế giới vẫn sẽ ở trong trạng thái tăng trưởng thấp và không chắc chắn, ít nhất đến hết năm 2021./.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Hàng Việt vào Mỹ nhắm con số 57 tỉ USD



Năm 2015, xuất khẩu túi xách VN sang Mỹ đạt gần 3 tỉ USD - Ảnh: Tiến Long
Năm 2015, xuất khẩu túi xách VN sang Mỹ đạt gần 3 tỉ USD - Ảnh: Tiến Long
Cùng với Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ sớm có hiệu lực thời gian tới, chuyến thăm VN của Tổng thống Barack Obama được xem là cú hích quan trọng cho hoạt động trao đổi thương mại hai nước, đặc biệt là xuất khẩu VN sang Mỹ.
Sau 16 năm kể từ khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA) được ký kết vào năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của VN sang Mỹ đã tăng gấp 41 lần, với 33,4 tỉ USD vào năm 2015 so với con số 800 triệu USD của năm 2000. Và theo dự báo, năm 2020 kim ngạch 
xuất khẩu của VN sang Mỹ sẽ đạt 57 tỉ USD.
Thị trường của hàng nông sản VN
“Cứ hai hạt điều mà người Mỹ ăn, có một hạt điều mua từ VN”- ông Đặng Hoàng Giang, phó chủ tịch Hiệp hội Điều VN (Vinacas), dẫn thông tin từ một bài báo Mỹ gần đây để khẳng định rằng 
hạt điều VN đã có một chỗ đứng khá vững chắc tại thị trường Mỹ. Và theo Vinacas, Mỹ là thị trường nhập khẩu hạt điều lớn nhất 
của VN.
Chỉ trong bốn tháng đầu năm nay, thị trường này nhập hơn 28.562 tấn hạt điều VN, tăng gần 9% so với cùng kỳ năm ngoái, với giá trị trên 220 triệu USD, tăng 18,6%.
“Cuối tháng 5 này, Vinacas sẽ có đoàn xúc tiến thương mại hạt điều tại Mỹ. Chúng tôi hi vọng chuyến đi sẽ thúc đẩy xuất khẩu hạt điều vào Mỹ được tốt hơn trong năm nay” - ông Giang cho biết.
Vừa trở về sau chuyến khảo sát các vườn vải tại Hải Dương và Bắc Giang, ông Nguyễn Xuân Nhi, giám đốc xuất khẩu của Công ty TNHH Trái cây nhiệt đới (Bến Tre) - đơn vị chuyên xuất khẩu chôm chôm và nhãn đạt chuẩn Global GAP sang các thị trường khó tính, cho biết đang chuẩn bị để tiếp tục xuất trái vải sang Mỹ và Úc, sau khi những lô vải tươi được đơn vị xuất thử nghiệm sang hai thị trường này vào năm ngoái.
Theo ông Nhi, trái vải của VN có chất lượng thơm ngon đặc trưng cũng như hệ thống hạ tầng cho xuất khẩu đã hoàn thiện, với Trung tâm chiếu xạ Hà Nội (thuộc Viện Năng lượng nguyên tử) vừa được nâng cấp phục vụ chiếu xạ hoa quả tươi xuất khẩu, không phải tốn thêm chi phí vận chuyển vào TPHCM để chiếu xạ như trước.
“Cái khó là mùa vải của VN năm nay chín muộn, trùng với thời điểm vải của Mexico, Thái Lan và Trung Quốc nên xuất khẩu sẽ khó khăn hơn do chi phí vận chuyển của VN cao hơn” - ông Nhi 
cho biết.
Trái cây tươi là một trong những mặt hàng mới của VN xuất khẩu sang Mỹ, nhưng đây cũng là ngành xuất khẩu có tốc độ phát triển khá cao do nhu cầu của Mỹ rất lớn.
Kể từ năm 2008, khi thanh long là trái cây tươi đầu tiên của VN được xuất sang Mỹ, đến nay đã có thêm chôm chôm, nhãn, vải. Đặc biệt, Mỹ là thị trường nhập khẩu nhiều nhất các loại trái cây tươi của VN trong số các thị trường khó tính đã mở cửa (bên cạnh Nhật, Hàn Quốc, Úc, Đài Loan...).
Ngoài trái cây, Mỹ cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của VN như thủy sản, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, đồ gỗ.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN, Mỹ tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của cá tra, tôm và cá ngừ VN trong 4 tháng đầu năm, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung của cả ngành là 6,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, riêng mặt hàng tôm đạt kim ngạch gần 200 triệu USD, tăng 21,8%.
Dệt may, da giày tận dụng cơ hội mới
Ngay từ khi BTA được ký kết vào năm 2000, thị trường Mỹ đã được dự báo sẽ là đối tác hàng đầu của VN, nhất là đối với ngành xuất khẩu lớn nhất là dệt may và da giày.
Và thực tế cũng cho thấy tổng kim ngạch hàng dệt may vào Mỹ hiện đã xấp xỉ 11 tỉ USD, tăng hơn 217 lần so với con số 50 triệu USD vào năm 2000. Riêng bốn tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp dệt may VN đã xuất được 3,4 tỉ USD sang Mỹ, chiếm gần 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này.
Theo ông Vũ Đức Giang, chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN (Vinatex), TPP sẽ là “cú hích” lớn cho các doanh nghiệp tăng xuất khẩu, khai thác thêm bạn hàng mới từ quốc gia có lợi thế rất lớn của ngành dệt may VN trong TPP.
“Hầu hết các doanh nghiệp lớn của ngành dệt may VN đều có tỉ trọng xuất khẩu khá lớn sang thị trường Mỹ. Nhiều doanh nghiệp dệt may cũng đã điều chỉnh lại chiến lược phát triển thị trường, chọn Mỹ làm thị trường chính thay cho EU như cách đây vài năm” - ông Giang thông tin.
Tương tự, ngành da giày đã đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 4 tỉ USD vào Mỹ năm 2015 và khoảng 1,33 tỉ USD trong bốn tháng đầu năm 2016, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành hàng này, vượt qua thị trường chủ lực lâu nay là EU.
Trao đổi với chúng tôi, một lãnh đạo Công ty CP đầu tư và sản xuất giày Thái Bình (TBS Group) - đơn vị có tỉ trọng xuất khẩu giày sang Mỹ chiếm đến 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu - cho biết chi phí sản xuất tại Trung Quốc tăng lên, chưa kể hiện tượng mẫu mã thường bị đánh cắp tại thị trường này, nên số đơn hàng chuyển dịch về VN ngày một nhiều. Cho đến nay, hầu hết các thương hiệu lớn của Mỹ đều chọn VN làm “cứ điểm” sản xuất.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đức Thuấn (chủ tịch Hiệp hội Da giày, túi xách VN), dù TPP sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội cho ngành dệt may và da giày VN, nhưng trở ngại chính của ngành da giày VN hiện nay là khả năng tự chủ nguồn cung nguyên phụ liệu còn hạn chế, chưa kể các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang chiếm ưu thế khi chiếm gần 79% trong tổng kim ngạch và tỉ trọng xuất khẩu của ngành hàng này.
Trong khi đó, ông Lê Quang Hùng, chủ tịch HĐQT Công ty CP Garmex Sài Gòn, cho rằng làm ăn với Mỹ không phải là chuyện dễ dàng hiện nay.
Chẳng hạn, với ngành hàng dệt may, chưa nói đến chất lượng và mẫu mã, tốc độ thời gian giao hàng đã là một thách thức với nhiều doanh nghiệp.
“Thị trường Mỹ thay đổi mẫu rất nhanh. Giao chậm, mẫu đổi, đối tác không bán được hàng là gặp khó ngay. Do đó, thời gian giao hàng ngày càng rút ngắn, hiện chỉ còn 75 ngày thay vì 90 ngày như trước và không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được” - ông Hùng cho biết.

                                https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg9JUL7TOcoMyG4w6Qo8MoKsKUN6gHU84xengfTHef7Qp6xOcCEjSGImGhy8FO-F3DcbvB0RNBkDTULx7kovWjTXuOSl56iWgbriEKPC6IzdqD-r82U02xBQN3mFyZ3s2Zpivg4PSLuvoE/s400/images.jpg

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Hà Tĩnh: Tấp nập khách trở lại các điểm kinh doanh hải sản an toàn

Hiện nay, 25 điểm kinh doanh hải sản an toàn ở Hà Tĩnh đã tấp nập khách trở lại nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Y tế tỉnh. Đây là các nhà hàng đảm bảo các điều kiện, có vị trí phù hợp, thuận lợi cho việc giao dịch, có hệ thống bảo quản tốt, đảm bảo chất lượng hải sản trong thời gian tạm trữ chờ tiêu thụ, không gian thông thoáng, đảm bảo vệ sinh môi trường...

Các sở, ngành tỉnh Hà Tĩnh đã tích cực phối hợp giúp các cửa hàng hải sản an toàn thu hút khách trở lại.
Một khách hàng ở phường Nguyễn Du (TP Hà Tĩnh) chia sẻ: “Thời gian qua tôi không dám mua hải sản, nhưng nay thấy hàng hóa được chứng nhận đã kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh trực tiếp dán tem, nhãn thì tôi rất yên tâm”.

Hoạt động mua bán hải sản tại cửa hàng số 120 Xuân Diệu, TP Hà Tĩnh.
Chia sẻ với PV Báo Xây dựng, ông Lê Ngọc Châu, Giám đốc Sở Y tế khẳng định: Ngành y tế tỉnh đã huy động các đơn vị có đủ năng lực chuyên môn để kiểm soát ATTP, Chi cục ATVSTP tỉnh và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh sẽ thường xuyên kiểm tra, giám sát nguồn hải sản được nhập về và bán ra đảm bảo chất lượng, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện phong trào “Nói không với thực phẩm bẩn”.
Trước đó, Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia (Bộ Y tế) có văn bản trả lời kết quả kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn 8 mẫu hải sản do các cơ quan chức năng ở Hà Tĩnh thu thập từ các cửa biển, chợ ở Hà Tĩnh cho thấy không phát hiện hàm lượng xyanua, phenol trong tất cả các mẫu và hàm lượng kim loại nặng trong tất cả các mẫu đều nằm trong ngưỡng cho phép.
Đại diện lãnh đạo Sở Công thương Hà Tĩnh cho biết: “Sau khi triển khai các điểm bán hải sản an toàn, chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp kiểm tra để tránh trường hợp “trà trộn” các loại hải sản không rõ nguồn gốc vào tiêu thụ, đồng thời tư vấn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh bước đầu”.
Dự kiến, thời gian tới, Hà Tĩnh sẽ tiếp tục khai trương 150 điểm bán hải sản an toàn trong toàn tỉnh.

Khách hàng đã yên tâm trở lại các cửa hàng hải sản an toàn.
Theo Quyết định số 1118/QĐ-UBND do Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh ký ngày 11/5, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thực hiện việc kinh doanh hải sản tại các chợ, siêu thị, cửa hàng tiện ích đảm bảo các điều kiện thì được nhận hỗ trợ một lần với số tiền 5 triệu đồng/điểm kinh doanh do thị trường bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hải sản chết bất thường.

Sản phẩm tại cửa hàng hải sản an toàn số 16 Võ Liêm Sơn (TP Hà Tĩnh).
UBND tỉnh đã hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 45 ngày đối với các nhân khẩu thuộc hộ gia đình chủ tàu và hộ gia đình của lao động trên tàu khai thác hải sản ven bờ, vùng lộng không lắp máy hoặc lắp máy có công suất dưới 90CV và các hộ gia đình làm dịch vụ hậu cần nghề cá trong khu vực ở của ngư dân bị ảnh hưởng trực tiếp. Theo đó, hỗ trợ một lần 3,5 triệu đồng/tàu không lắp máy đánh bắt ven bờ do phải ngừng ra khơi khai thác hải sản; hỗ trợ một lần 5 triệu đồng/tàu lắp máy có công suất dưới 90CV đánh bắt ven bờ và vùng lộng.
Cũng dịp này, Liên đoàn lao động tỉnh đã trao 08 bộ máy Icom (với tổng giá trị hơn 216 triệu đồng) cho 08 đoàn viên nghiệp đoàn nghề cá có thuyền công suất lớn đánh bắt cá xa bờ để thuận tiện cho quá trình liên lạc và 53 suất quà (mỗi suất 500.000 đồng) cho 53 đoàn viên nghiệp đoàn nghề cá có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons