This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020
Thị trường đứt gãy, triệu người ảnh hưởng
'Tuyên chiến' với gian lận xuất xứ hàng hóa
'Tuyên chiến' với gian lận xuất xứ hàng hóa
Là đối tác với hàng loạt quốc gia thông qua việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và được hưởng ưu đãi thuế quan cho nhiều mặt hàng, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ gian lận xuất xứ hàng hóa ngày càng tinh vi.

Không những thế, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đi vào thực thi từ 1/8 giúp hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi khi chuẩn bị xuất khẩu sang nhiều thị trường nhưng hệ lụy cũng đến khi nhiều mặt hàng phải chịu áp lực do gian lận xuất xứ hàng hóa và có thể bị trừng phạt bằng các biện pháp tự vệ. Vì vậy, Bộ Công Thương đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi thực trạng này.
Đối mặt với thách thức
Đại diện Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho hay, việc gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã và đang ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nhóm mặt hàng có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; nhôm và các sản phẩm từ nhôm…
Theo đại diện Cục Xuất Nhập khẩu, năm 2020 Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 8% là mục tiêu có cơ sở bởi ngoài thị trường xuất khẩu truyền thống, hàng loạt FTA đã ký kết và đang đàm phán, mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt với nhiều mặt hàng được miễn thuế.
Tuy nhiên, mặt trái đi kèm là tình trạng các doanh nghiệp tìm cách lợi dụng xuất xứ hàng hóa, thậm chí giả mạo C/O của Việt Nam để được hưởng ưu đãi, hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại một cách bất hợp pháp.
Qua khảo sát, Bộ Công Thương đã đưa ra danh sách hàng loạt mặt hàng có nguy cơ bị gian lận xuất xứ; trong đó, có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Cùng với đó, Bộ Công Thương cũng chỉ rõ phương thức, thủ đoạn gian lận xuất xứ phổ biến là sản xuất tại nước ngoài, khi nhập khẩu về Việt Nam ghi sẵn dòng chữ "Made in Vietnam" trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, phiếu bảo hành ghi bằng tiếng Việt các thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ trụ sở, trang website, trung tâm bảo hành tại Việt Nam.
Ngoài ra, còn có những trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dán nhãn, ghi xuất xứ hàng hóa trên bao bì, sản phẩm được sản xuất tại nước ngoài nhưng khi đưa ra lưu thông, tiêu thụ nội địa bị bóc nhãn và thay nhãn mới ghi "Made in Vietnam" hoặc, "xuất xứ Việt Nam".
Không những thế, doanh nghiệp còn thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện, phụ tùng hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác gia công, lắp ráp… không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định, nhưng vẫn ghi "sản xuất tại Việt Nam" hay "xuất xứ Việt Nam" để tiêu thụ thị trường trong nước, đánh lừa người tiêu dùng.
Đáng lưu ý, nhiều thương nhân nước ngoài lợi dụng doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ vận chuyển quá cảnh; tạm nhập tái xuất để trung chuyển hàng hóa, sau đó thương nhân nước ngoài làm giả C/O Việt Nam để gian lận xuất xứ hàng hóa.
Theo Bộ Công Thương, dù tỷ lệ C/O bị hải quan các nước yêu cầu xác minh xuất xứ trong tổng số C/O ưu đãi được cấp là rất nhỏ nhưng vẫn còn tình trạng làm giả C/O để gian lận xuất xứ.
Hơn nữa, việc hỗ trợ cung cấp số liệu xuất nhập khẩu của cơ quan hải quan, nhất là quá trình đối chiếu, xem xét để cấp C/O cho doanh nghiệp còn chậm. Đặc biệt, một số thị trường không yêu cầu cấp C/O nhập khẩu nên việc phòng, chống gian lận xuất xứ bằng cách tăng cường quản lý khi cấp C/O gặp khó khăn.
Phân tích từ các chuyên gia cho thấy, nguyên nhân là do hành lang pháp lý hiện chưa theo kịp diễn biến thực tế và quy định về quy tắc xuất xứ với một số mặt hàng còn lỏng lẻo.
Hơn nữa, việc quy định kiểm tra hồ sơ xin cấp chứng nhận xuất xứ C/O chưa chặt chẽ; quy định pháp luật về xuất xứ chưa cụ thể, chưa bao quát được, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa.
Không những thế, một số doanh nghiệp lợi dụng việc tổ chức cấp C/O tạo sự thông thoáng trong khâu kiểm tra hồ sơ trước khi xuất khẩu để thực hiện hành vi gian lận về chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa hoặc lợi dụng việc cấp các loại Giấy chứng nhận khác có nội dung tương tự C/O để gian lận…
Chia sẻ thêm về vấn đề này, ông Trần Hữu Linh - Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương) cho biết, thời gian qua, Cục Xuất Nhập khẩu nhiều lần gửi hồ sơ sang Tổng cục Quản lý thị trường về nghi vấn gian lận C/O, làm C/O giả. Qua kiểm tra, doanh nghiệp cũng lý giải là do cần gấp C/O, nếu không cấp kịp phía đối tác sẽ huỷ đơn hàng.
Ngoài ra, một nguyên nhân khác là tình trạng lợi dụng việc một số nước nhập khẩu áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Một số nước kể cả Mỹ cho phép nhà nhập khẩu được tự khai báo, tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa nên xuất hiện hành vi gian lận xảy ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Điều này vượt tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng Việt Nam.
Đẩy lùi gian lận xuất xứ
Theo ông Lê Triệu Dũng - Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, tới nay, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan, các hiệp hội và các doanh nghiệp tiếp nhận, xử lý 176 vụ việc nước ngoài khởi xướng điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó số vụ việc của Việt Nam điều tra để áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước mới dừng lại con số 17. Điều này cho thấy, các biện pháp phòng vệ thương mại, bao gồm biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là các biện pháp được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế.
Chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada hay EU đã có những quy định về phòng vệ thương mại cách đây gần 100 năm nhưng tại Việt Nam công cụ về phòng vệ thương mại vẫn còn là các nội dung tương đối mới với các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp.
Ông Lê Triệu Dũng cũng chỉ ra rằng, nếu như năm 2007 Việt Nam mới gia nhập WTO, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 100 tỷ USD thì năm 2019 đã đạt tới con số 500 tỷ USD. Như vậy, chỉ trong vòng 12 năm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp đôi và số lượng các vụ việc, các biện pháp phòng vệ thương mại với cái hàng hóa xuất khẩu cũng gia tăng theo.
Vì thế, ngay sau khi Đề án 824 về Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 4/7/2019, các bộ, ngành đã tích cực, chủ động triển khai các nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ giao thông qua việc ban hành các Kế hoạch hành động, thành lập các Tổ công tác, triển khai thực hiện quyết liệt trên thực tế.
Danh sách cảnh báo mặt hàng có nguy cơ gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp nhằm lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đã được Bộ Công Thương xây dựng và cập nhật định kỳ để gửi các bộ, ngành, UBND các tỉnh/thành phố.
Ngoài ra, Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có chức năng điều tra các hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp cũng như khuyến cáo doanh nghiệp không tiếp tay cho các hành vi gian dối.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 22/2019/TT-BCT ngày 12/11/ 2019 quy định về tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập gỗ dán vào Việt Nam để tái xuất Hoa Kỳ và Thông tư số 27/2019/TT-BCT ngày 15/11/2019 quy định về danh mục phế liệu tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu.
Mặt khác, Bộ Công Thương còn xây dựng dự thảo thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam.
Đặc biệt, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ tăng cường công tác kiểm tra, đấu tranh với hành vi gian lận thương mại về xuất xứ, đặc biệt các mặt hàng nhạy cảm.
Nhận định về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, việc ban hành và thực thi Đề án 824 của Chính phủ là quyết định quan trọng, thể hiện quan điểm rõ ràng và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc ngăn chặn các hành vi lẩn tránh bất hợp pháp, gian lận xuất xứ và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ quy định về chứng nhận xuất xứ; xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý hiện đại để đáp ứng các yêu cầu chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu.
Mặt khác, không tiếp tay cho các hành vi gian lận xuất xứ, đồng thời phối hợp theo dõi sát thị trường để có thể kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý khi thấy có dấu hiệu bất thường.
Bộ Công Thương khẳng định sẽ cùng các cơ quan thực thi phòng chống gian lận xuất xứ, gian lận thương mại và quản lý nhà nước phát huy hơn nữa cơ chế phối hợp, đưa ra những biện pháp cụ thể để xử lý vấn đề này.
Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tạo sự tương tác thường xuyên hơn nữa giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, giữa khu vực trong nước với đối tác quốc tế để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng từ các biện pháp phòng vệ thương mại.
Quản lý thị trường tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng
Tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng quản lý thị trường
Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, theo ông Trần Hữu Linh- Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường, ngay từ những ngày đầu được tổ chức lại, Tổng cục Quản lý thị trường đã xác định cải cách hành chính là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong mọi hoạt động.
Tính đến hiện nay, Tổng cục đã giảm được 235 Đội quản lý thị trường và sẽ tiếp tục giảm 70 đội trong năm 2020 còn 376 đội quản lý thị trường, giảm 16% theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường.
Việc tinh gọn bộ máy, giảm đội không làm giảm đi hiệu quả kiểm tra, kiểm soát mà còn tạo sự chuyển biến tích cực rõ rệt trong điều hành, quản lý. Sự chỉ đạo, quản lý tập trung, thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương đã phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường, ứng phó kịp thời đối với các diễn biến bất thường, có tác động tiêu cực trên thị trường cả nước.
Những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2019 và 7 tháng đầu năm 2020, lực lượng quản lý thị trường đã thực hiện nhiều chương trình, tổ chức triển khai kịp thời chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Công Thương trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả qua đó làm tốt việc quản lý địa bàn, kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Đồng thời, thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trong hoạt động thương mại đối với các cơ sở kinh doanh, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế sai phạm của đối tượng trong hoạt động kinh doanh.
Ông Nguyễn Kỳ Minh-Phó Chánh văn phòng Tổng cục Quản lý thị trường cho biết, thời gian gần đây, lực lượng quản lý thị trường đã tổ chức kiểm tra, xử lý các điểm nóng về kinh doanh hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại chợ Bến Thành, trung tâm thương mại Sài Gòn Square; phát hiện dấu hiệu vi phạm về kinh doanh hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại hệ thống kinh doanh mỹ phẩm Ansan Cosmetics tại TP. HCM; tấn công vào tổng kho hàng lậu hơn 10.000 m2 ở Lào Cai góp phần phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19 của lực lượng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và người dân ghi nhận, đánh giá cao.
Hơn nữa, ngay từ năm 2019, Tổng cục đã đưa vào vận hành chính thức Cổng thông tin điện tử; hệ thống quản lý văn bản điện tử; hệ thống thư điện tử công vụ; cở sở dữ liệu và quản lý công tác tài chính; cơ sở dữ liệu và thống kê xử phạt hành chính, hệ thống hội nghị trực tuyến với 64 điểm cầu (Tổng cục và 63 Cục địa phương).
Ngoài ra, Tổng cục đã xây dựng và đưa vào áp dụng chính thức phần mềm quản lý tài chính cho toàn lực lượng tại địa chỉ http://fin.dms.gov.vn/ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành ngân sách; công khai, minh bạch trong sử dụng, thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định.
Mặt khác, Tổng cục Quản lý thị trường còn thực hiện việc hiện đại hóa hành chính đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành, xử lý, trao đổi văn bản điện tử; xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ thực thi công vụ; phát triển hạ tầng kỹ thuật và áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động của Tổng cục thời gian qua, Tổng cục đã chuyển đổi, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động theo quy định.
Đối với cải cách thể chế, trong năm 2020, Tổng cục cũng được Bộ giao xây dựng 2 thông tư; đồng thời tiếp tục đăng ký xây dựng 3 thông tư vào Chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 của Bộ.
Tuy nhiên, ông Trần Hữu Linh cũng thẳng thắn chỉ ra rằng hệ thống văn bản, chính sách pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả còn chồng chéo dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng khác nhau, trong khi việc sửa đổi, bổ sung chậm, chưa tháo gỡ được khó khăn cho các lực lượng trong thực thi nhiệm vụ.
Không dừng lại ở đó, năng lực và trình độ chuyên môn của công chức quản lý thị trường chưa đồng đều, còn có công chức buông lỏng quản lý, chưa chấp hành đúng quy định trong hoạt động công vụ, dẫn đến sai sót trong quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.
Cùng với đó, lực lượng quản lý thị trường mỏng nhưng phải tổ chức quản lý, kiểm tra số lượng lớn doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đồng thời phải tham gia nhiều nhiệm vụ khác do chính quyền địa phương giao.
Hơn nữa, trang thiết bị, phương tiện nghiệp vụ của lực lượng quản lý thị trường còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhiều đội quản lý thị trường vẫn phải thuê hoặc mượn trụ sở làm việc, không có đủ phương tiện làm việc…
Do đó, ông Trần Hữu Linh kiến nghị Chính phủ xem xét, bổ sung lực lượng quản lý thị trường được sử dụng xe có tín hiệu được quyền ưu tiên trên cơ sở đánh giá, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 109/2009/NĐ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ quy định về tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.
Ngoài ra, Bộ Công Thương cần chỉ đạo các Vụ, đơn vị liên quan rà soát, đánh giá lại tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động quản lý và xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu; gas; nguyên liệu thuốc lá và các sản phẩm từ thuốc lá; rượu; thương mại điện tử trên thị trường để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý đảm bảo thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật./.
Ngân hàng Nhà nước thêm một động thái nới lỏng tiền tệ
Thêm một động thái nới lỏng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa phát đi thông báo 3 quyết định hạ lãi suất điều hành các loại tiền gửi tại NHNN từ ngày 6/8/2020. Đây được cho là một trong những động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN.
Cụ thể, NHNN ban hành quyết định số 1349/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (TCTD) tại NHNN. Theo đó, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0,5%/năm, lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0%/năm.
Quyết định số 1350/QĐ-NHNN về mức tiền gửi bằng VNĐ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng vi mô tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi này là 0,8%/năm.
Quyết định số 1351/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi bằng VNĐ của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi tại NHNN là 0,8%/năm.
Theo NHNN, quyết định điều chỉnh lãi suất trên nằm trong chuỗi đồng bộ nhiều giải pháp điều hành chính sách tiền tệ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19.
Khi được hỏi đây có thể coi là một động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đây có thể được coi là một động thái nới lỏng tiền tệ. Bởi khi NHNN tăng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN là khuyến khích gửi tiền và hút tiền vào. Còn khi NHNN giảm lãi suất là muốn các ngân hàng đẩy lượng tiền đó vào lưu thông trên thị trường.
Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”
Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”



Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu
Lãi suất tiết kiệm tiếp tục giảm, nhiều ngân hàng đang thừa tiền.
Gửi tiết kiệm còn hấp dẫn?
Tại 4 ngân hàng thương mại lớn có vốn Nhà nước, lãi suất huy động hiện giữ nguyên so với tháng 7/2020. Nằm trong khoảng từ 3,7%-6,1%/năm với các kỳ hạn từ 1-36 tháng.
Cụ thể, các ngân hàng BIDV, Vietinbank và Agribank có biểu lãi suất huy động 1-36 tháng từ 3,7%-6%/năm. Mức lãi suất 6%/năm thuộc về các kỳ hạn từ 12-36 tháng. Vietcombank áp dụng biểu lãi suất tương tự so với 3 ngân hàng trên, riêng gửi tiết kiệm tại kì hạn 24 tháng được hưởng lãi suất 6,1%/năm.
Với các ngân hàng thương mại cổ phần, lãi suất nhiều kỳ hạn tiếp tục giảm. Techcombank ngay đầu tháng 8 đã giảm lãi suất từ 0,2-0,3 điểm % so với tháng trước với kỳ hạn từ 1 đến 36 tháng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cũng điều chỉnh giảm 0,3 điểm phần trăm tại nhiều kì hạn gửi từ 1 đến 36 tháng. Lãi suất huy động cao nhất tại hình thức gửi tiết kiệm thông thường vẫn được duy trì ở mức 7,7% khi gửi tiền tại kì hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kì.
![]() |
| Các ngân hàng đều giảm lãi suất huy động từ tháng 8 |
Ngân hàng ACB các khoản tiền kì hạn 1 tháng được điều chỉnh giảm từ 0,3-0,45 điểm % so với đầu tháng 7 và dao động trong khoảng từ 3,7%-3,8%/năm. ACB giảm 0,5 điểm % và 0,6 điểm % lần lượt cho các khoản tiền gửi kì hạn 6 tháng và 9 tháng, lãi suất dao động từ 5,3%-5,6%/năm. Đối với kì hạn 12 tháng, lãi suất giảm 0,5 điểm % so với đầu tháng 7, niêm yết ở mức 5,7%-6%/năm. Khách hàng gửi từ 30 tỷ đồng trở lên kì hạn 13 tháng sẽ được hưởng lãi suất 7,5%/năm.
Lãi suất ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank) cũng điều chỉnh giảm tại đa số các kì hạn so với đầu tháng 7. Với hình thức tiết kiệm truyền thống lĩnh lãi cuối kì, lãi suất tại VietBank dao động từ 3,9%-8%/năm tại các kì hạn từ 1-36 tháng. Riêng kì hạn 13 tháng, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi nhất hiện nay là 8%/năm với điều kiện gửi từ 500 tỷ đồng trở lên theo hình thức lĩnh lãi cuối kì.
Với hình thức gửi tiết kiệm online, lãi suất tại các ngân hàng đều cao hơn so với gửi tại quầy từ 0,3 đến 1,2 điểm % tùy từng ngân hàng. Mức lãi suất gửi online cao nhất tại một số ngân hàng như Việt Á, NCB lên tới 8-8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và khoảng 7,5-7,6% với kỳ hạn 7 tháng.
Lãi vay khó giảm
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 28/7, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,45% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ tăng 7,13%). Đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong khi đó, huy động vốn tăng 5,31%. Nhiều ngân hàng có tăng trưởng tín dụng thấp và thanh khoản dồi dào.
Lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã giảm và ở mức thấp, liệu lãi suất cho vay có giảm tiếp?
![]() |
| Lãi suất cho vay khó giảm do không còn nhiều dư địa |
Ý kiến của giới chuyên môn cho rằng, không có nhiều dư địa để hạ lãi suất cho vay. Dư địa tiền tệ phụ thuộc vào chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát, khoảng chênh lệch này càng lớn thì dư địa càng nhiều. Lãi suất điều hành của Việt Nam đang dao động từ 3% (lãi suất chiết khấu 3%) đến 4,5% (lãi suất tái cấp vốn), xen giữa đó là trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn (4,25%). Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm là 4,19%. Như vậy, chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát (lãi suất thực) là rất nhỏ, đồng nghĩa với dư địa còn rất hẹp.
Muốn giảm lãi suất thêm, Việt Nam cần phải giảm được tỷ lệ lạm phát. Nếu cố ép lãi suất xuống ngang lạm phát hoặc thấp hơn lạm phát, tiền sẽ chảy qua các kênh khác như trái phiếu DN, vàng, bất động sản có thể đẩy giá các thị trường này lên, hình thành “bong bóng”. Nếu điều đó xảy ra sẽ gây rủi ro cho nền kinh tế, khiến quá trình hồi phục trở nên khó khăn, đồng thời tác động xấu trực tiếp tới nhóm người có thu nhập trung bình và thấp trong xã hội.
Một số ngân hàng thương mại cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay có thể sẽ giảm thêm lãi suất cho vay, nhưng mức giảm không nhiều. Thời gian qua, ngân hàng giảm lãi vay chủ yếu là chấp nhận hy sinh lợi nhuận để hỗ trợ DN. Tuy vậy, ngân hàng chỉ có thể giảm lãi suất đến mức độ nhất định do phải bảo toàn vốn cho người gửi tiền.
Giới chuyên môn nhận định, việc các ca lây nhiễm Covid-19 xuất hiện trở lại trong cộng đồng từ cuối tháng 7 có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng kinh doanh. Để cứu DN, việc đưa ra giải pháp đột phá về lãi suất, tín dụng là cần thiết, như các gói vay lãi suất 0% cho các ngành hàng không, du lịch,... Tuy nhiên, các gói vay này - nếu có - lại liên quan đến tài khóa, chứ không phải chính sách tiền tệ, vì sử dụng tiền ngân sách, ngân hàng chỉ là nơi giải ngân hộ.
Về phía ngân hàng, kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh quý 3/2020 của các tổ chức tín dụng (TCTD) do Vụ Dự báo - Thống kê Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện cho thấy, tỷ lệ các TCTD nhận định kết quả hoạt động kinh doanh trong quý 3 cải thiện hơn so với quý trước giảm mạnh, từ mức 47% tại thời điểm tháng 3/2020 xuống mức 32% tại kỳ điều tra. Trong đó, có 15,3% TCTD lo ngại kết quả hoạt động kinh doanh sẽ suy giảm. Tuy nhiên, điều tra này được thực hiện khi dịch Covid-19 chưa quay trở lại.
Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm
Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm và bức tranh triển vọng "màu xám"
Chuyên gia kinh tế cao cấp Stephen Bartholomeusz của tờ Sydney Morning Herald nhận định, dịch bệnh vẫn đang lan rộng tại Mỹ. Các quan chức y tế cấp cao của quốc gia này cảnh báo rằng đại dịch đang bước vào một giai đoạn mới, thậm chí lan rộng hơn.
Quốc hội với Nhà Trắng vẫn tiếp tục tranh cãi về các điều khoản của gói cứu trợ mới, thay cho gói cũ đã hết hạn vào ngày 31/7. Điều đó khiến cho sự lạc quan trên các thị trường chứng khoán dường như không có cơ sở.
Mặc dù có khá nhiều nhận định tiên đoán rằng kinh tế thế giới trong quý II/2020 sẽ chứng kiến "điểm rơi" thấp nhất, giữa bối cảnh dịch bệnh gây ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống sức khỏe và kinh tế toàn cầu, nhưng những con số thực tế vừa được công bố trên toàn cầu vẫn tạo ra một cú sốc khó tưởng tượng.
Mỹ đã trải qua một đợt "sụt giảm" kinh tế lớn nhất kể từ năm 1947 - giai đoạn nội chiến, với mức giảm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý II/2020 là 9,5% so với quý trước đó, tương đương mức giảm kỷ lục 32,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kết quả kinh tế tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) thậm chí còn tồi tệ hơn nữa, GDP quý II/2020 giảm 12,1% so với quý trước đó, đưa tổng mức sụt giảm tăng trưởng cả năm lên khoảng 40%. Trước đó, vào quý I/2020, khi các tác động kinh tế do đại dịch gây ảnh hưởng mới chỉ bắt đầu, GDP của Eurozone đã giảm 3,6%.
Trong số các thành viên của Eurozone, Tây Ban Nha chứng kiến mức suy giảm GDP quý II/2020 lớn nhất là 18,5%, Italy là 12,4%, Pháp là gần 14% và Đức - nền kinh tế số một châu Âu - giảm 10,1%.
Tuy nhiên, Eurozone hiện đã mở cửa trở lại các nền kinh tế của mình, mặc dù vẫn còn thận trọng, nhưng có khả năng khu vực này sẽ vượt qua "điểm đáy" nếu dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát.
Triển vọng của Mỹ, vốn rất quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu, lại mờ mịt và càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đối lập giữa đảng Dân chủ, đảng Cộng hòa và Nhà Trắng, trong việc lên kế hoạch cho gói cứu trợ mới.
Mỹ, sau những nỗ lực kiểm soát dịch bệnh tại các khu vực điểm nóng ban đầu, dường như cho thấy sự tái khởi động kinh tế Mỹ. Khoảng 7,5 triệu trong số 20 triệu việc làm bị mất trong tháng Tư đã được khôi phục vào tháng Năm và Sáu, làm dấy lên hy vọng về một sự phục hồi hình chữ V (suy giảm mạnh và bật tăng mạnh trở lại ngay sau khi chạm đáy).
Tuy nhiên, một số lượng việc làm đã được khôi phục có khả năng sẽ lại biến mất, với báo cáo việc làm công bố ngày 31/7 cho thấy con số thất nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng.
Nếu Quốc hội Mỹ không thể đồng ý với một gói kích thích/cứu trợ mới, hoặc Đảng Cộng hòa theo đuổi một giải pháp khác và mức hỗ trợ thu nhập theo kế hoạch ban đầu để đối phó với đại dịch sẽ bị thu hẹp 2/3, thì tác động đối với việc làm và nền kinh tế rộng hơn của cường quốc lớn nhất thế giới là hoàn toàn có thể hình dung được, nhưng không phải theo chiều hướng tích cực.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), vốn luôn thúc giục Quốc hội cung cấp nhiều kích thích hơn, đã cho thấy một vấn đề rõ ràng rằng số phận của nền kinh tế Mỹ phụ thuộc nghiêm trọng vào tiến trình lây lan của dịch bệnh. Ngân hàng trung ương đang tiếp tục lên kế hoạch cho một kịch bản tồi tệ nhất, mặc dù trước đó đã áp dụng hành động "chưa từng có" để cố gắng bảo vệ nền kinh tế và hệ thống tài chính Mỹ.
Thị trường chứng khoán Mỹ, tâm điểm định hướng cho các thị trường chứng khoán trên toàn cầu, đã giao dịch "nhiệt tình" như thể virus là một cái gì đó không đáng lo ngại, bất chấp nhiều cảnh báo được đưa ra cho thấy doanh thu quý II/2020 của các tập đoàn sẽ giảm trung bình 37%.
Ngược lại, chứng khoán tương lai - trái phiếu kho bạc 10 năm - của Mỹ chứng kiến mức lợi suất -1,03% vào ngày 31/7, cho thấy những dấu hiệu của mức lãi suất thấp và tăng trưởng yếu trong vài năm tới.
Những gì thể hiện trên thị trường trái phiếu cho thấy không có kỳ vọng nào về quá trình phục hồi hình chữ V hay hình chữ U, hay thậm chí là bất cứ thứ gì khác, ngoại trừ sự quay trở lại của một tiến trình tăng trưởng khiêm tốn kéo dài vài năm.
Tại Australia, trái phiếu kho bạc 10 năm hiện có lợi suất đạt khoảng 0,8% và rất có khả năng sẽ sớm sụt giảm trong thực tế. Chỉ số giá tiêu dùng CPI của quý II/2020 đã giảm 1,9% do tác động tồi tệ của đại dịch gây ảnh hưởng tới giá xăng dầu và dịch vụ giáo dục.
Điểm sáng duy nhất trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, với số liệu công bố vào ngày 31/7 là của Trung Quốc, nơi mà một cuộc khảo sát của các nhà quản lý nhà máy đã cho thấy hoạt động sản xuất tăng trưởng trong tháng thứ ba liên tiếp.
Tuy nhiên, Trung Quốc - ngay cả khi không gia tăng căng thẳng ngày càng sâu rộng với Mỹ - cũng khó có thể đảm bảo cho sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Các thị trường chứng khoán đã không còn được xem là phong vũ biểu cho thể trạng kinh tế toàn cầu, khi mà sự lạc quan bị tận dụng một cách nhầm lẫn. Thậm chí ngay cả khi vắc-xin để chống lại virus SARS-CoV-2 được bào chế thành công và phân phối rộng rãi, nhanh chóng tới mọi quốc gia, thì thế giới vẫn sẽ ở trong trạng thái tăng trưởng thấp và không chắc chắn, ít nhất đến hết năm 2021./.


Chủ Nhật, tháng 8 09, 2020
doanh nhan
Ông Trần Hữu Linh- Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường chỉ đạo nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Ảnh: Uyên Hương/BNEWS/TTXVN
Quản lý thị trường kiểm tra hàng hoá vi phạm. Ảnh: nguồn Tổng cục Quản lý thị trường
Quản lý thị trường liên tục kiểm soát thị trường theo chuyên đề. Ảnh: nguồn Tổng cục Quản lý thị trường

Một nhà hàng mở cửa phục vụ thực khách tại New York, Mỹ ngày 25/6/2020. Ảnh: THX/TTXVN