Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Thị trường đứt gãy, triệu người ảnh hưởng

 Thị trường đứt gãy, triệu người ảnh hưởng: Trợ lực sáng tạo vượt khó

Chính phủ nên có gói hỗ trợ kích thích kinh tế mới càng sớm càng tốt và áp dụng ít nhất đến hết năm 2021. Gói hỗ trợ này cần đáp ứng xu hướng mới, chú trọng vào các yếu tố liên quan đến sáng tạo, đổi mới...

Khó khăn kéo dài

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 2,6%, thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong đó, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực giảm sâu. Cụ thể như: khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 8,8%, xe máy giảm 7,7%, quần áo mặc thường giảm 7,1%, điện thoại di động giảm 6,3%, khí hóa lỏng LPG giảm 5,4%, thép cán giảm 4,9%, thức ăn cho gia súc giảm 3,9%,...

Trong khi đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho hay, nửa đầu năm 2020, đã có 30,8 triệu lao động bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, trong đó 2,6 triệu lao động mất việc, khoảng 17,6 triệu người giảm thu nhập.

Bộ Công Thương dự báo, tình hình sản xuất công nghiệp từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn khi mà dịch Covid-19 tái xuất. Còn Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã tính đến kịch bản xấu nhất, số lao động mất việc có thể tăng khoảng 60.000 - 70.000 người mỗi tháng, trong khi số lao động bị ngừng việc, giãn việc, giảm việc có thể lên tới từ 3,5-5 triệu người.

Thị trường đứt gãy, triệu người ảnh hưởng: Trợ lực sáng tạo vượt khó
Dự kiến số lao động mất việc ngày càng tăng (ảnh minh họa)
Với nhiều DN, tình hình đang rất khó khăn. Nhu cầu hàng hóa giảm mạnh, sản phẩm sản xuất ra tồn kho lớn, đơn hàng xuất khẩu bị hoãn, hủy,... Chẳng hạn, ngành dệt may ước tính mất tới 50% đơn đặt hàng thời gian qua. Nhiều DN không có đơn hàng cho quý 4. Có doanh nghiệp ở các khu công nghiệp đang phải giãn ca, cho công nhân nghỉ 3 ngày cuối tuần. Tình hình hiện nay còn cấp bách hơn thời điểm trước. 

Dịch Covid-19 lại diễn biến phức tạp khi liên tục xuất hiện thêm hàng chục ca lây nhiễm mới, buộc các địa phương phải tái áp dụng các biện pháp phòng chống. Điều đó cũng có nghĩa, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN vẫn tiếp tục gặp khó khăn.

Trên thế giới, kinh tế Mỹ trong quý 2/2020 đã giảm đến 33%, EU giảm 12,1%, Hàn Quốc, Nhật Bản cũng giảm. Những đối tác chiến lược lớn của Việt Nam đều suy giảm rất nghiêm trọng khiến thị trường đầu ra của nhiều DN gặp vô vàn khó khăn. Khi các công ty không có nguyên liệu sản xuất và đơn đặt hàng thì công nhân sẽ không có việc làm.

Các dự báo cho thấy kinh tế thế giới còn tiếp tục giảm sâu. Việt Nam là nền kinh tế mở, với kim ngạch xuất nhập khẩu trên 520 tỷ USD, gấp đôi GDP. Một khi các nước, nhất là các đối tác kinh tế lớn, vẫn vất vả đối phó với dịch bệnh, nhu cầu hàng hóa sẽ không còn như trước. Nhiều DN không có đơn hàng xuất khẩu, dự báo số người mất việc, thất nghiệp sẽ còn tăng trong những tháng tới.

Cần tiếp sức và truyền cảm hứng 


 Mặc dù tiêu dùng nội địa có tiến triển khả quan hơn xuất khẩu, nhưng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Do thu nhập bị giảm xuống và tâm trạng bi quan với triển vọng kinh tế, người tiêu dùng đang có xu hướng “phòng thủ” trong chi tiêu.

Thị trường đứt gãy, triệu người ảnh hưởng: Trợ lực sáng tạo vượt khó
Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện tại nhu cầu vốn của DN vẫn rất thấp. Khó khăn lớn nhất của DN lúc này không phải là thiếu vốn mà là thị trường đang đứt gãy. Nhiều DN đang đối mặt với khả năng phải dừng hoạt động. Dù cố gắng “bơm” vốn ra nền kinh tế, kể cả vốn giá rẻ thì khả năng hấp thụ cũng rất khó khăn.

Trước tình hình này, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng, Chính phủ nên có gói hỗ trợ kích thích kinh tế mới càng sớm càng tốt và áp dụng ít nhất đến hết năm 2021. Gói hỗ trợ phải đáp ứng xu hướng mới, chú trọng vào các yếu tố liên quan đến sáng tạo, đổi mới,... gắn với những lĩnh vực mới, xu hướng sản xuất kinh doanh mới. Như vậy mới có thể hy vọng thúc đẩy kinh tế phát triển.

Chuyên gia kinh tế Bùi Đức Thụ nhận định, hiệu quả các gói hỗ trợ còn thấp, mới đạt được 30%. Do đó, cần phải rà soát nhanh các cơ chế hiện hành để đơn giản hóa thủ tục, tăng giải ngân các gói hỗ trợ để giảm bớt khó khăn cho người dân, cho DN.

Đặc biệt, trên cơ sở thực tiễn, Chính phủ cần cân nhắc thêm gói hỗ trợ dài hạn hơn, ở quy mô lớn hơn; đồng thời, sớm chỉ đạo các bộ ngành tổng hợp các khó khăn mà DN kiến nghị trong thời gian qua để nhận diện một cách đầy đủ rộng khắp. Trên cơ sở đó chúng ta sàng lọc lại, nhận diện chính sách cần hỗ trợ vào đâu, quy mô rộng thế nào, nguồn lực lấy từ đâu, chính sách nào triển khai...

Vấn đề quan trọng nhất thời điểm này là cần tập trung đẩy nhanh tiến độ và triển khai hiệu quả các gói hỗ trợ người dân và DN. Một trong số đó là gói 16.000 tỷ đồng cho vay lãi suất 0%, cần khẩn trương tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện, thủ tục. Bên cạnh đó, cần xem xét cho phép gia hạn thời gian giãn, hoãn thuế, tiền thuê đất trước mắt là hết năm 2020 để DN đỡ khó khăn về thanh toán chi phí rất cần thiết, theo ông Lực.

Ông Tô Hoài Nam,  Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cũng cho rằng, Chính phủ cần nghiên cứu thêm gói kích thích kinh tế đặc biệt, mang tính dài hơi và hành động cụ thể, trợ lực cho nền kinh tế và DN. Mặt khác, trong hoàn cảnh khó khăn này, Chính phủ cần truyền cảm hứng nhiều hơn cho DN, người dân.

'Tuyên chiến' với gian lận xuất xứ hàng hóa

 'Tuyên chiến' với gian lận xuất xứ hàng hóa

Là đối tác với hàng loạt quốc gia thông qua việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và được hưởng ưu đãi thuế quan cho nhiều mặt hàng, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ gian lận xuất xứ hàng hóa ngày càng tinh vi.

Chú thích ảnh
Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA là cơ hội lớn cho cho ngành da giày của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU. Ảnh: TTXVN

Không những thế, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đi vào thực thi từ 1/8 giúp hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi khi chuẩn bị xuất khẩu sang nhiều thị trường nhưng hệ lụy cũng đến khi nhiều mặt hàng phải chịu áp lực do gian lận xuất xứ hàng hóa và có thể bị trừng phạt bằng các biện pháp tự vệ. Vì vậy, Bộ Công Thương đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi thực trạng này.

Đối mặt với thách thức

Đại diện Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho hay, việc gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã và đang ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Các nhóm mặt hàng có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; nhôm và các sản phẩm từ nhôm…

Theo đại diện Cục Xuất Nhập khẩu, năm 2020 Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 8% là mục tiêu có cơ sở bởi ngoài thị trường xuất khẩu truyền thống, hàng loạt  FTA đã ký kết và đang đàm phán, mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt với nhiều mặt hàng được miễn thuế.

Tuy nhiên, mặt trái đi kèm là tình trạng các doanh nghiệp tìm cách lợi dụng xuất xứ hàng hóa, thậm chí giả mạo C/O của Việt Nam để được hưởng ưu đãi, hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại một cách bất hợp pháp.

Qua khảo sát, Bộ Công Thương đã đưa ra danh sách hàng loạt mặt hàng có nguy cơ bị gian lận xuất xứ; trong đó, có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Cùng với đó, Bộ Công Thương cũng chỉ rõ phương thức, thủ đoạn gian lận xuất xứ phổ biến là sản xuất tại nước ngoài, khi nhập khẩu về Việt Nam ghi sẵn dòng chữ "Made in Vietnam" trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, phiếu bảo hành ghi bằng tiếng Việt các thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ trụ sở, trang website, trung tâm bảo hành tại Việt Nam.

Ngoài ra, còn có những trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dán nhãn, ghi xuất xứ hàng hóa trên bao bì, sản phẩm được sản xuất tại nước ngoài nhưng khi đưa ra lưu thông, tiêu thụ nội địa bị bóc nhãn và thay nhãn mới ghi "Made in Vietnam" hoặc, "xuất xứ Việt Nam".

Không những thế, doanh nghiệp còn thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện, phụ tùng hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác gia công, lắp ráp… không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định, nhưng vẫn ghi "sản xuất tại Việt Nam" hay "xuất xứ Việt Nam" để tiêu thụ thị trường trong nước, đánh lừa người tiêu dùng.

Đáng lưu ý, nhiều thương nhân nước ngoài lợi dụng doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ vận chuyển quá cảnh; tạm nhập tái xuất để trung chuyển hàng hóa, sau đó thương nhân nước ngoài làm giả C/O Việt Nam để gian lận xuất xứ hàng hóa.

Theo Bộ Công Thương, dù tỷ lệ C/O bị hải quan các nước yêu cầu xác minh xuất xứ trong tổng số C/O ưu đãi được cấp là rất nhỏ nhưng vẫn còn tình trạng làm giả C/O để gian lận xuất xứ.

Hơn nữa, việc hỗ trợ cung cấp số liệu xuất nhập khẩu của cơ quan hải quan, nhất là quá trình đối chiếu, xem xét để cấp C/O cho doanh nghiệp còn chậm. Đặc biệt, một số thị trường không yêu cầu cấp C/O nhập khẩu nên việc phòng, chống gian lận xuất xứ bằng cách tăng cường quản lý khi cấp C/O gặp khó khăn.

Phân tích từ các chuyên gia cho thấy, nguyên nhân là do hành lang pháp lý hiện chưa theo kịp diễn biến thực tế và quy định về quy tắc xuất xứ với một số mặt hàng còn lỏng lẻo.

Hơn nữa, việc quy định kiểm tra hồ sơ xin cấp chứng nhận xuất xứ C/O chưa chặt chẽ; quy định pháp luật về xuất xứ chưa cụ thể, chưa bao quát được, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa.

Không những thế, một số doanh nghiệp lợi dụng việc tổ chức cấp C/O tạo sự thông thoáng trong khâu kiểm tra hồ sơ trước khi xuất khẩu để thực hiện hành vi gian lận về chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa hoặc lợi dụng việc cấp các loại Giấy chứng nhận khác có nội dung tương tự C/O để gian lận…

Chia sẻ thêm về vấn đề này, ông Trần Hữu Linh - Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương) cho biết, thời gian qua, Cục Xuất Nhập khẩu nhiều lần gửi hồ sơ sang Tổng cục Quản lý thị trường về nghi vấn gian lận C/O, làm C/O giả. Qua kiểm tra, doanh nghiệp cũng lý giải là do cần gấp C/O, nếu không cấp kịp phía đối tác sẽ huỷ đơn hàng.

Ngoài ra, một nguyên nhân khác là tình trạng lợi dụng việc một số nước nhập khẩu áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Một số nước kể cả Mỹ cho phép nhà nhập khẩu được tự khai báo, tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa nên xuất hiện hành vi gian lận xảy ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Điều này vượt tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng Việt Nam.

Đẩy lùi gian lận xuất xứ

Theo ông Lê Triệu Dũng - Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, tới nay, Bộ Công Thương đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan, các hiệp hội và các doanh nghiệp tiếp nhận, xử lý 176 vụ việc nước ngoài khởi xướng điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Trong khi đó số vụ việc của Việt Nam điều tra để áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước mới dừng lại con số 17. Điều này cho thấy, các biện pháp phòng vệ thương mại, bao gồm biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là các biện pháp được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế.

Chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada hay EU đã có những quy định về phòng vệ thương mại cách đây gần 100 năm nhưng tại Việt Nam công cụ về phòng vệ thương mại vẫn còn là các nội dung tương đối mới với các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp.

Ông Lê Triệu Dũng cũng chỉ ra rằng, nếu như năm 2007 Việt Nam mới gia nhập WTO, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 100 tỷ USD thì năm 2019 đã đạt tới con số 500 tỷ USD. Như vậy, chỉ trong vòng 12 năm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng gấp đôi và số lượng các vụ việc, các biện pháp phòng vệ thương mại với cái hàng hóa xuất khẩu cũng gia tăng theo.

Vì thế, ngay sau khi Đề án 824 về Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 4/7/2019, các bộ, ngành đã tích cực, chủ động triển khai các nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ giao thông qua việc ban hành các Kế hoạch hành động, thành lập các Tổ công tác, triển khai thực hiện quyết liệt trên thực tế.

Danh sách cảnh báo mặt hàng có nguy cơ gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp nhằm lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đã được Bộ Công Thương xây dựng và cập nhật định kỳ để gửi các bộ, ngành, UBND các tỉnh/thành phố.

Ngoài ra, Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có chức năng điều tra các hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp cũng như khuyến cáo doanh nghiệp không tiếp tay cho các hành vi gian dối.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 22/2019/TT-BCT ngày 12/11/ 2019 quy định về tạm ngừng kinh doanh chuyển khẩu, kinh doanh tạm nhập gỗ dán vào Việt Nam để tái xuất Hoa Kỳ và Thông tư số 27/2019/TT-BCT ngày 15/11/2019 quy định về danh mục phế liệu tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu.

Mặt khác, Bộ Công Thương còn xây dựng dự thảo thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các cơ quan cấp giấy chứng nhận xuất xứ tăng cường công tác kiểm tra, đấu tranh với hành vi gian lận thương mại về xuất xứ, đặc biệt các mặt hàng nhạy cảm.

Nhận định về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, việc ban hành và thực thi Đề án 824 của Chính phủ là quyết định quan trọng, thể hiện quan điểm rõ ràng và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc ngăn chặn các hành vi lẩn tránh bất hợp pháp, gian lận xuất xứ và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ quy định về chứng nhận xuất xứ; xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý hiện đại để đáp ứng các yêu cầu chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu.

Mặt khác, không tiếp tay cho các hành vi gian lận xuất xứ, đồng thời phối hợp theo dõi sát thị trường để có thể kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý khi thấy có dấu hiệu bất thường.

Bộ Công Thương khẳng định sẽ cùng các cơ quan thực thi phòng chống gian lận xuất xứ, gian lận thương mại và quản lý nhà nước phát huy hơn nữa cơ chế phối hợp, đưa ra những biện pháp cụ thể để xử lý vấn đề này.

Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tạo sự tương tác thường xuyên hơn nữa giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, giữa khu vực trong nước với đối tác quốc tế để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng từ các biện pháp phòng vệ thương mại.

Quản lý thị trường tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng

 Tinh gọn bộ máy để nâng cao chất lượng quản lý thị trường

Tổng cục quản lý thị trường đã giảm 235 Đội và sẽ tiếp tục giảm xuống 376 đội quản lý thị trường theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường.

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, theo ông Trần Hữu Linh- Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường, ngay từ những ngày đầu được tổ chức lại, Tổng cục Quản lý thị trường đã xác định cải cách hành chính là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong mọi hoạt động.

Tính đến hiện nay, Tổng cục đã giảm được 235 Đội quản lý thị trường và sẽ tiếp tục giảm 70 đội trong năm 2020 còn 376 đội quản lý thị trường, giảm 16% theo đúng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Tổng cục Quản lý thị trường.

Việc tinh gọn bộ máy, giảm đội không làm giảm đi hiệu quả kiểm tra, kiểm soát mà còn tạo sự chuyển biến tích cực rõ rệt trong điều hành, quản lý. Sự chỉ đạo, quản lý tập trung, thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến địa phương đã phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường, ứng phó kịp thời đối với các diễn biến bất thường, có tác động tiêu cực trên thị trường cả nước.

Những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2019 và 7 tháng đầu năm 2020, lực lượng quản lý thị trường đã thực hiện nhiều chương trình, tổ chức triển khai kịp thời chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Công Thương trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả qua đó làm tốt việc quản lý địa bàn, kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Đồng thời, thực hiện tốt việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trong hoạt động thương mại đối với các cơ sở kinh doanh, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế sai phạm của đối tượng trong hoạt động kinh doanh.

Ông Nguyễn Kỳ Minh-Phó Chánh văn phòng Tổng cục Quản lý thị trường cho biết, thời gian gần đây, lực lượng quản lý thị trường đã tổ chức kiểm tra, xử lý các điểm nóng về kinh doanh hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại chợ Bến Thành, trung tâm thương mại Sài Gòn Square; phát hiện dấu hiệu vi phạm về kinh doanh hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại hệ thống kinh doanh mỹ phẩm Ansan Cosmetics tại TP. HCM; tấn công vào tổng kho hàng lậu hơn 10.000 m2 ở Lào Cai góp phần phòng, chống hiệu quả dịch bệnh COVID-19 của lực lượng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương và người dân ghi nhận, đánh giá cao.

Hơn nữa, ngay từ năm 2019, Tổng cục đã đưa vào vận hành chính thức Cổng thông tin điện tử; hệ thống quản lý văn bản điện tử; hệ thống thư điện tử công vụ; cở sở dữ liệu và quản lý công tác tài chính; cơ sở dữ liệu và thống kê xử phạt hành chính, hệ thống hội nghị trực tuyến với 64 điểm cầu (Tổng cục và 63 Cục địa phương).

Ngoài ra, Tổng cục đã xây dựng và đưa vào áp dụng chính thức phần mềm quản lý tài chính cho toàn lực lượng tại địa chỉ http://fin.dms.gov.vn/ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành ngân sách; công khai, minh bạch trong sử dụng, thu, chi ngân sách nhà nước theo quy định.

Mặt khác, Tổng cục Quản lý thị trường còn thực hiện việc hiện đại hóa hành chính đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành, xử lý, trao đổi văn bản điện tử; xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ thực thi công vụ; phát triển hạ tầng kỹ thuật và áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động của Tổng cục thời gian qua, Tổng cục đã chuyển đổi, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 trong hoạt động theo quy định.

Đối với cải cách thể chế, trong năm 2020, Tổng cục cũng được Bộ giao xây dựng 2 thông tư; đồng thời tiếp tục đăng ký xây dựng 3 thông tư vào Chương trình xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 của Bộ.
Tuy nhiên, ông Trần Hữu Linh cũng thẳng thắn chỉ ra rằng hệ thống văn bản, chính sách pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả còn chồng chéo dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng khác nhau, trong khi việc sửa đổi, bổ sung chậm, chưa tháo gỡ được khó khăn cho các lực lượng trong thực thi nhiệm vụ.

Không dừng lại ở đó, năng lực và trình độ chuyên môn của công chức quản lý thị trường chưa đồng đều, còn có công chức buông lỏng quản lý, chưa chấp hành đúng quy định trong hoạt động công vụ, dẫn đến sai sót trong quy trình kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.

Cùng với đó, lực lượng quản lý thị trường mỏng nhưng phải tổ chức quản lý, kiểm tra số lượng lớn doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đồng thời phải tham gia nhiều nhiệm vụ khác do chính quyền địa phương giao.

Hơn nữa, trang thiết bị, phương tiện nghiệp vụ của lực lượng quản lý thị trường còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhiều đội quản lý thị trường vẫn phải thuê hoặc mượn trụ sở làm việc, không có đủ phương tiện làm việc…

Do đó, ông Trần Hữu Linh kiến nghị Chính phủ xem xét, bổ sung lực lượng quản lý thị trường được sử dụng xe có tín hiệu được quyền ưu tiên trên cơ sở đánh giá, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 109/2009/NĐ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ quy định về tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.

Ngoài ra, Bộ Công Thương cần chỉ đạo các Vụ, đơn vị liên quan rà soát, đánh giá lại tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động quản lý và xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược liệu; gas; nguyên liệu thuốc lá và các sản phẩm từ thuốc lá; rượu; thương mại điện tử trên thị trường để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý đảm bảo thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật./.

Ngân hàng Nhà nước thêm một động thái nới lỏng tiền tệ

 Thêm một động thái nới lỏng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa phát đi thông báo 3 quyết định hạ lãi suất điều hành các loại tiền gửi tại NHNN từ ngày 6/8/2020. Đây được cho là một trong những động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN.

Cụ thể, NHNN ban hành quyết định số 1349/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng (TCTD) tại NHNN. Theo đó, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0,5%/năm, lãi suất đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VNĐ là 0%/năm.

Quyết định số 1350/QĐ-NHNN về mức tiền gửi bằng VNĐ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tín dụng vi mô tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi này là 0,8%/năm.

Quyết định số 1351/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại NHNN. Theo đó, lãi suất áp dụng đối với tiền gửi bằng VNĐ của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm tiền  gửi tại NHNN là 0,8%/năm.

Theo NHNN, quyết định điều chỉnh lãi suất trên nằm trong chuỗi đồng bộ nhiều giải pháp điều hành chính sách tiền tệ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19.

Khi được hỏi đây có thể coi là một động thái nới lỏng tiền tệ của NHNN, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đây có thể được coi là một động thái nới lỏng tiền tệ. Bởi khi NHNN tăng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN là khuyến khích gửi tiền và hút tiền vào. Còn khi NHNN giảm lãi suất là muốn các ngân hàng đẩy lượng tiền đó vào lưu thông trên thị trường.

Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”

 Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”

Chứng khoán Việt có thời cơ vàng, nhưng khó đón “đại bàng về làm tổ”
Ngay ở rổ VN30, nhiều mã đại diện cho sức hấp dẫn của thị trường, hay ở nhiều ngân hàng, NĐTNN muốn đầu tư cũng chịu vì hết hoặc khóa room - Ảnh: Huyền Trâm
Như vậy, các sự kiện kỷ niệm 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) đã dần trôi qua. Nhưng, nhiều câu hỏi vẫn còn lại.
Bước qua tuổi 20, thị trường đã qua thời kỳ non trẻ, hướng tới giai đoạn trưởng thành. Vậy chứng khoán Việt cần nhìn nhận mình đang có những gì và cần hoàn thiện những gì để có sức, tạo đà phát triển mạnh mẽ, bền vững trong giai đoạn mới?
Nhiều dữ liệu thống kê cho thấy quy mô TTCKVN vẫn còn khiêm tốn trong khu vực, sự tham gia của các nhà đầu tư lớn và đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) còn hạn chế. Vây làm sao để thu hút?
Như cách nói của một số thành viên Chính phủ, chứng khoán Việt cũng cần thu hút “đại bàng” về “làm tổ”, phát triển và hướng tới mục tiêu nâng hạng. Nhưng phải làm gì và có khả thi không?
GỌI TÊN NHỮNG HẠN CHẾ
Dịp tổng kết 20 năm hoạt động vừa qua, Sở Giao dịch Chứngkhoán TP.HCM (HOSE) nêu ra những điểm hạn chế hiện nay của thị trường.
Đó là thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn non trẻ, khoảng cách với các Sở trong khu vực vẫn còn khá xa. Quy mô vốn hóa thị trường Việt Nam mới gần bằng 1/5 thị trường Phillippines, 1/7 thị trường Indonesia và 1/8 thị trường Thái Lan. Quy mô vốn hóa TTCK trên GDP còn khiêm tốn, cơ cấu giữa thị trường vốn còn mất cân đối.
Phát triển nhanh, bền vững thị trường chứng khoán, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các thành viên thị trường là một thách thức không nhỏ với HOSE và với các thành viên thị trường. Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trong nhiều doanh nghiệp niêm yết còn lớn, khiến tính thanh khoản của cổ phiếu còn hạn chế so với tiềm năng của doanh nghiệp.
HOSE cũng thừa nhận, thanh khoản trên thị trường được cải thiện nhưng vẫn tồn tại các yếu tố chưa thực sự bền vững. Giá trị giao dịch còn thấp so với các thị trường trong khu vực. Giá trị giao dịch bình quân ngày của thị trường Việt đạt 180 triệu USD, bằng 1/9 thị trường Thái Lan (1,5 tỷ USD), 1/5 thị trường Singapore (864 triệu USD), 2/3 thị trường Malaysia (244 triệu USD).
Sự tham gia của NĐTNN trong tổng giao dịch còn hạn chế. Tỷ trọng tham gia của khối ngoại trên thị trường Việt Nam theo giá trị giao dịch còn thấp, đặc biệt là các tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức chưa cao. Tại ngày 31/12/2019, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân chiếm 99,34%.
Bên cạnh đó là những hạn chế được sở này vạch ra đó là số lượng sản phẩm mới thực tế được chào bán và niêm yết trên thị trường cổ phiếu còn hạn chế, thị trường vẫn chủ yếu tập trung vào sản phẩm truyền thống là cổ phiếu; chất lượng quản trị công ty có cải thiện nhưng còn khoảng cách xa so với thị trường khu vực; quá trình cổ phần hóa và thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước còn diễn ra chậm ảnh hưởng đến nguồn cung hàng hóa cho thị trường trong thời gian qua.
Việc chưa có hướng dẫn cụ thể về việc niêm yết đối với các doanh nghiệp có nguồn gốc FDI dẫn đến việc nhiều các doanh nghiệp có nguồn gốc FDI chưa thực hiện niêm yết được trên các Sở GDCK. Việc phân định chưa rõ ràng về cấu trúc giữa các thị trường cổ phiếu, trái phiếu dẫn đến những khó khăn nhất định cho nhà đầu tư và thành viên thị trường...
 Biểu đồ VN-Index sau 20 năm phát triển - Nguồn: HOSE.
CHỈ MỘT THAY ĐỔI NHỎ CŨNG PHẢI MẤT THỜI GIAN DÀI…
Ông Phan Dũng Khánh, Giám đốc Tư vấn đầu tư, CTCK Maybank KimEng, một người gắn bó với thị trường 20 năm qua nhìn nhận, thị trường có sự trưởng thành nhất định sau 20 năm hoạt động; trong đó khoảng 10 năm trở lại đây, tiến trình cổ phần hóa đạt được nhiều kết quả tốt.
“Trước những yêu cầu DNNN cổ phần hóa thì tốc độ cổ phần hóa nhanh hơn, giúp cho thị trường có số lượng hàng hóa, là kim chỉ nam cho nền kinh tế giống như những thị trường phát triển, hầu như doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều trên sàn chứng khoán. Tôi đánh giá đây là bước phát triển tuyệt vời cho TTCK, thu hút nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức”, ông Khánh đánh giá.
Tuy nhiên, chuyên gia tài chính này cũng chỉ ra nhiều hạn chế của thị trường hiện nay.
Ông Khánh nêu, trên TTCK Việt có 3 chỉ số chính gồm VN-Index, HNX-Index và UPCoM-Index. Trong đó, chỉ số sàn HNX đã ra đời cách đây 15 năm với mốc ban đầu 100 điểm và hiện nay chỉ hơn 100 điểm, chỉ tăng hơn 10%, tức là tỷ suất là tệ, ngay cả việc gửi ngân hàng lợi nhuận còn cao hơn. UPCoM sau 11 năm, khởi đầu 100 điểm mà hiện nay chỉ số chỉ bằng một nửa.
Ông Khánh cũng chỉ ra, những chính sách, sản phẩm trên thị trường dù đã hoạt động 20 năm nhưng vẫn chậm, nghèo nàn.
Cụ thể, giai đoạn đầu, chứng khoán thực hiện thanh toán T+4, sau đó mất gần chục năm chuyển xuống T+3, tiếp đó mất 5 năm chuyển xuống T+2 nhưng thực ra cũng chỉ được T+2,5. Có nghĩa những thay đổi nhỏ mất khoảng thời gian dài.
Bên cạnh đó những sản phẩm mới như chứng khoán phái sinh nhắc đến giai đoạn năm 2003-2005 nhưng đến tận 2017 mới có, chứng quyền cũng mất thời gian dài mới đưa ra được. Mức độ trưởng thành của thị trường là có tuy nhiền cần có tốc độ nhanh hơn.
Bên cạnh đó, ông Khánh còn nêu chính sách liên quan khối ngoại. Luật Đầu tư từ 2005 đã có nhắc đến việc nới room cho khối ngoại, tuy nhiên đến tận năm 2015 mới có những văn bản, nghị định, thông tư ban hành cho phép quy định cụ thể chi tiết NĐTNN tham gia vào ở mức hạn chế đầu tư hay thoải mái.
“Có nghĩa là chúng ta có bước tiến lớn nhưng có những vấn đề khác còn chậm và nên thay đổi điều này càng sớm càng tốt để TTCK Việt sau nhiều năm kỳ vọng nâng hạng sẽ sớm được hiện thực, bởi việc nâng hạng sẽ giúp cho dòng vốn ngoại vào TTCK, với sự tham gia của những nhà đầu tư lớn”, ông Khánh nói.
Cũng theo chuyên gia này, NĐTNN ở Việt Nam hiện nay thường là nhà đầu tư nhỏ, còn nhà đầu tư lớn họ không tham gia trực tiếp vào TTCK mà chỉ tham gia theo cách đầu tư trực tiếp vào dự án, doanh nghiệp. Theo đó, việc thay đổi hạn chế trên giúp cho thị trường nâng hạng sớm, những tổ chức khổng lồ hơn, dòng vốn lớn hơn sẽ đổ vào TTCK trong thời gian tới.
LÀM GÌ ĐỂ THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ LỚN, SIÊU LỚN?
Trong bản tổng kết của mình, HOSE đã đưa ra phương hướng phát triển giai đoạn 2021-2025 với 5 điểm chính.
Theo đó, xác định xây dựng quy mô thị trường cổ phiếu 120% GDP vào năm 2025; số lượng công ty niêm yết đến năm 2020 tăng 20% so với năm 2017; triển khai các sản phẩm mới theo hướng từ đơn giản đến phức tạp, các loại chứng quyền có bảo đảm trên chỉ số/ETF, chứng quyền bán, các loại hình quỹ ETF, chứng chỉ lưu ký (DR), chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR); phát triển thêm các chỉ số cơ sở để làm tài sản cơ sở cho thị trường chứng khoán phái sinh.
Đồng thời, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đưa hệ thống công nghệ thông tin mới vào hoạt động đồng bộ tại hai Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký phục vụ quản lý, giám sát giao dịch, thanh toán bù trừ cho toàn thị trường; chú trọng phát triển bền vững và nâng cao minh bạch, chất lượng công ty niêm yết, hướng đến chất lượng quản trị công ty trong các công ty niêm yết của Việt Nam đạt mức bình quân ASEAN-6…
Còn với thành viên trên thị trường, ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao của CTCK KIS Việt Nam cho rằng, ít nhất có 2 điểm cần làm: một là rút ngắn kỳ thanh toán, hai là nới room cho khối ngoại.
Trong đó, khâu thanh toán là một trong những tiêu chí then chốt, hiện vẫn T+3 đối với chứng khoán, T+2 đối với tiền đang hạn chế khả năng nâng hạng thị trường, chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư.
Tương tự với vấn đề nới room khối ngoại, ông Phương cho rằng cần mở rộng. Trong đó có giải pháp phụ đi kèm là có thể cân nhắc cung cấp cho nhà đầu tư lựa chọn đầu tư cổ phiếu không có quyền biểu quyết. Nếu làm tốt sản phẩm này thì phần nào giải được tiêu chí hạn chế room cho khối ngoại.
“Có những NĐTNN có nguồn vốn lớn, vài trăm triệu USD thậm chí tỷ USD, khi họ muốn đầu tư vào thì phải ngắm vào doanh nghiệp lớn, có tính thanh khoản cao, có thương hiệu. Thường là những doanh nghiệp nằm trong rổ VN30 nhưng điểm lại nhóm này doanh nghiệp thực sự tốt, có thương hiệu thì gần như hết room, còn lại thì rất ít không đáp ứng giải ngân nguồn vốn lớn”, ông Phương nêu thực tế hiện nay ở nhiều doanh nghiệp tốt mà “đại bàng” muốn về “làm tổ” cũng chịu.
Qua thời non trẻ, chứng khoán Việt cần hành động để hướng tới giai đoạn mới - Ảnh: Huyền Trâm.
Cũng đề cập tới việc hút vốn ngoại, ông Phan Dũng Khánh cho rằng cần hạn chế việc đầu cơ trên thị trường hiện nay.
Ông Khánh phân tích, yếu tố đầu cơ thị trường nào cũng có, nhìn một mặt nào đó yếu tố đầu cơ còn tốt vì với mức độ vừa phải sẽ giúp cho thị trường có sự thanh khoản. Nếu ai cũng đầu tư dài hạn thì không có yếu tố thanh khoản. Nhưng ở TTCK Việt yếu tố đầu cơ là lớn, gắn với cả vi phạm trong khi chế tài xử lý còn nhẹ.
Chuyên gia này lấy ví dụ, có những trường hợp một số lãnh đạo doanh nghiệp bán chui cổ phiếu, vi phạm quy định thu khoản lợi lớn hàng trăm tỷ mà phức phạt thấp thì vẫn “tạo điều kiện” cho họ. Bên cạnh đó, cổ phiếu của doanh nghiệp kết quả kinh doanh liên tục đi xuống mà giá vẫn đi lên tức là có hiện tượng thao túng, lũng đoạn nhưng vẫn xảy ra khá thường xuyên trên TTCK.
Theo ông Khánh, nhiều nhà đầu tư nhìn vào sẽ thấy bức tranh có gam màu tối, giảm đi sức hút trong mắt họ, đặc biệt là những nhà đầu tư lớn, siêu lớn. Nên nếu khắc phục thêm việc này thì dòng vốn còn đổ thêm vào thị trường.
“Các chính sách minh bạch thu hút dòng vốn, cộng thêm hiện nay chúng ta có lợi thế lớn là mở cửa lại kinh tế, kiểm soát dịch tốt, các định chế tài chính lớn, HSBC, Fitch… đánh giá Việt Nam phục hồi kinh tế tốt, là điểm sáng của châu Á. Những đánh giá giúp cho dòng vốn ngoại dễ chảy vào Việt Nam hơn. Nhưng việc chảy vào cũng phụ thuộc vào chúng ta mở cửa ở mức độ nào, bên cạnh đó những vấn đề tôi nêu ở trên. Tôi gọi đây là thời điểm vàng chúng ta giúp cho TTCK Việt nâng hạng cũng như giúp nền kinh tế bay cao, bay xa hơn”, ông Phan Dũng Khánh nói.

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu

 Lãi suất tiết kiệm tiếp tục giảm, nhiều ngân hàng đang thừa tiền.

Gửi tiết kiệm còn hấp dẫn?

Tại 4 ngân hàng thương mại lớn có vốn Nhà nước, lãi suất huy động hiện giữ nguyên so với tháng 7/2020. Nằm trong khoảng từ 3,7%-6,1%/năm với các kỳ hạn từ 1-36 tháng. 

Cụ thể, các ngân hàng BIDV, Vietinbank và Agribank có biểu lãi suất huy động 1-36 tháng từ 3,7%-6%/năm. Mức lãi suất 6%/năm thuộc về các kỳ hạn từ 12-36 tháng. Vietcombank áp dụng biểu lãi suất tương tự so với 3 ngân hàng trên, riêng gửi tiết kiệm tại kì hạn 24 tháng được hưởng lãi suất 6,1%/năm.

Với các ngân hàng thương mại cổ phần, lãi suất nhiều kỳ hạn tiếp tục giảm. Techcombank ngay đầu tháng 8 đã giảm lãi suất từ 0,2-0,3 điểm % so với tháng trước với kỳ hạn từ 1 đến 36 tháng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cũng điều chỉnh giảm 0,3 điểm phần trăm tại nhiều kì hạn gửi từ 1 đến 36 tháng. Lãi suất huy động cao nhất tại hình thức gửi tiết kiệm thông thường vẫn được duy trì ở mức 7,7% khi gửi tiền tại kì hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kì.

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu
Các ngân hàng đều giảm lãi suất huy động từ tháng 8

Ngân hàng ACB các khoản tiền kì hạn 1 tháng được điều chỉnh giảm từ 0,3-0,45 điểm % so với đầu tháng 7 và dao động trong khoảng từ 3,7%-3,8%/năm. ACB giảm 0,5 điểm % và 0,6 điểm % lần lượt cho các khoản tiền gửi kì hạn 6 tháng và 9 tháng, lãi suất dao động từ 5,3%-5,6%/năm. Đối với kì hạn 12 tháng, lãi suất giảm 0,5 điểm % so với đầu tháng 7, niêm yết ở mức 5,7%-6%/năm. Khách hàng gửi từ 30 tỷ đồng trở lên kì hạn 13 tháng sẽ được hưởng lãi suất  7,5%/năm.

Lãi suất ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (VietBank) cũng điều chỉnh giảm tại đa số các kì hạn so với đầu tháng 7. Với hình thức tiết kiệm truyền thống lĩnh lãi cuối kì, lãi suất tại VietBank dao động từ 3,9%-8%/năm tại các kì hạn từ 1-36 tháng. Riêng kì hạn 13 tháng, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi nhất hiện nay là 8%/năm với điều kiện gửi từ 500 tỷ đồng trở lên theo hình thức lĩnh lãi cuối kì.

Với hình thức gửi tiết kiệm online, lãi suất tại các ngân hàng đều cao hơn so với gửi tại quầy từ 0,3 đến 1,2 điểm % tùy từng ngân hàng. Mức lãi suất gửi online cao nhất tại một số ngân hàng như Việt Á, NCB lên tới 8-8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và khoảng 7,5-7,6% với kỳ hạn 7 tháng.

Lãi vay khó giảm

 

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 28/7, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,45% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ tăng 7,13%). Đây là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong khi đó, huy động vốn tăng 5,31%. Nhiều ngân hàng có tăng trưởng tín dụng thấp và thanh khoản dồi dào.

Lãi suất huy động nhiều ngân hàng đã giảm và ở mức thấp, liệu lãi suất cho vay có giảm tiếp?

Lãi suất tiếp tục giảm sâu, dư tiền trăm ngàn tỷ chảy về đâu
Lãi suất cho vay khó giảm do không còn nhiều dư địa

Ý kiến của giới chuyên môn cho rằng, không có nhiều dư địa để hạ lãi suất cho vay. Dư địa tiền tệ phụ thuộc vào chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát, khoảng chênh lệch này càng lớn thì dư địa càng nhiều. Lãi suất điều hành của Việt Nam đang dao động từ 3% (lãi suất chiết khấu 3%) đến 4,5% (lãi suất tái cấp vốn), xen giữa đó là trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn (4,25%). Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm là 4,19%. Như vậy, chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát (lãi suất thực) là rất nhỏ, đồng nghĩa với dư địa còn rất hẹp.

Muốn giảm lãi suất thêm, Việt Nam cần phải giảm được tỷ lệ lạm phát. Nếu cố ép lãi suất xuống ngang lạm phát hoặc thấp hơn lạm phát, tiền sẽ chảy qua các kênh khác như trái phiếu DN, vàng, bất động sản có thể đẩy giá các thị trường này lên, hình thành “bong bóng”. Nếu điều đó xảy ra sẽ gây rủi ro cho nền kinh tế, khiến quá trình hồi phục trở nên khó khăn, đồng thời tác động xấu trực tiếp tới nhóm người có thu nhập trung bình và thấp trong xã hội.

Một số ngân hàng thương mại cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay có thể sẽ giảm thêm lãi suất cho vay, nhưng mức giảm không nhiều. Thời gian qua, ngân hàng giảm lãi vay chủ yếu là chấp nhận hy sinh lợi nhuận để hỗ trợ DN. Tuy vậy, ngân hàng chỉ có thể giảm lãi suất đến mức độ nhất định do phải bảo toàn vốn cho người gửi tiền.

Giới chuyên môn nhận định, việc các ca lây nhiễm Covid-19 xuất hiện trở lại trong cộng đồng từ cuối tháng 7 có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng kinh doanh. Để cứu DN, việc đưa ra giải pháp đột phá về lãi suất, tín dụng là cần thiết, như các gói vay lãi suất 0% cho các ngành hàng không, du lịch,... Tuy nhiên, các gói vay này - nếu có - lại liên quan đến tài khóa, chứ không phải chính sách tiền tệ, vì sử dụng tiền ngân sách, ngân hàng chỉ là nơi giải ngân hộ.

Về phía ngân hàng, kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh quý 3/2020 của các tổ chức tín dụng (TCTD) do Vụ Dự báo - Thống kê Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện cho thấy, tỷ lệ các TCTD nhận định kết quả hoạt động kinh doanh trong quý 3 cải thiện hơn so với quý trước giảm mạnh, từ mức 47% tại thời điểm tháng 3/2020 xuống mức 32% tại kỳ điều tra. Trong đó, có 15,3% TCTD lo ngại kết quả hoạt động kinh doanh sẽ suy giảm. Tuy nhiên, điều tra này được thực hiện khi dịch Covid-19 chưa quay trở lại.

Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm

 Dữ liệu kinh tế toàn cầu ảm đạm và bức tranh triển vọng "màu xám"

Chuyên gia kinh tế cao cấp Stephen Bartholomeusz của tờ Sydney Morning Herald nhận định, dịch bệnh vẫn đang lan rộng tại Mỹ. Các quan chức y tế cấp cao của quốc gia này cảnh báo rằng đại dịch đang bước vào một giai đoạn mới, thậm chí lan rộng hơn.

Quốc hội với Nhà Trắng vẫn tiếp tục tranh cãi về các điều khoản của gói cứu trợ mới, thay cho gói cũ đã hết hạn vào ngày 31/7. Điều đó khiến cho sự lạc quan trên các thị trường chứng khoán dường như không có cơ sở.
Mặc dù có khá nhiều nhận định tiên đoán rằng kinh tế thế giới trong quý II/2020 sẽ chứng kiến "điểm rơi" thấp nhất, giữa bối cảnh dịch bệnh gây ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống sức khỏe và kinh tế toàn cầu, nhưng những con số thực tế vừa được công bố trên toàn cầu vẫn tạo ra một cú sốc khó tưởng tượng.
Mỹ đã trải qua một đợt "sụt giảm" kinh tế lớn nhất kể từ năm 1947 - giai đoạn nội chiến, với mức giảm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý II/2020 là 9,5% so với quý trước đó, tương đương mức giảm kỷ lục 32,9% so với cùng kỳ năm ngoái. 
Kết quả kinh tế tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) thậm chí còn tồi tệ hơn nữa, GDP quý II/2020 giảm 12,1% so với quý trước đó, đưa tổng mức sụt giảm tăng trưởng cả năm lên khoảng 40%. Trước đó, vào quý I/2020, khi các tác động kinh tế do đại dịch gây ảnh hưởng mới chỉ bắt đầu, GDP của Eurozone đã giảm 3,6%.
Trong số các thành viên của Eurozone, Tây Ban Nha chứng kiến mức suy giảm GDP quý II/2020 lớn nhất là 18,5%, Italy là 12,4%, Pháp là gần 14% và Đức - nền kinh tế số một châu Âu - giảm 10,1%.
Tuy nhiên, Eurozone hiện đã mở cửa trở lại các nền kinh tế của mình, mặc dù vẫn còn thận trọng, nhưng có khả năng khu vực này sẽ vượt qua "điểm đáy" nếu dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát.
Triển vọng của Mỹ, vốn rất quan trọng đối với sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu, lại mờ mịt và càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đối lập giữa đảng Dân chủ, đảng Cộng hòa và Nhà Trắng, trong việc lên kế hoạch cho gói cứu trợ mới.
Mỹ, sau những nỗ lực kiểm soát dịch bệnh tại các khu vực điểm nóng ban đầu, dường như cho thấy sự tái khởi động kinh tế Mỹ. Khoảng 7,5 triệu trong số 20 triệu việc làm bị mất trong tháng Tư đã được khôi phục vào tháng Năm và Sáu, làm dấy lên hy vọng về một sự phục hồi hình chữ V (suy giảm mạnh và bật tăng mạnh trở lại ngay sau khi chạm đáy).
Tuy nhiên, một số lượng việc làm đã được khôi phục có khả năng sẽ lại biến mất, với báo cáo việc làm công bố ngày 31/7 cho thấy con số thất nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng.
Nếu Quốc hội Mỹ không thể đồng ý với một gói kích thích/cứu trợ mới, hoặc Đảng Cộng hòa theo đuổi một giải pháp khác và mức hỗ trợ thu nhập theo kế hoạch ban đầu để đối phó với đại dịch sẽ bị thu hẹp 2/3, thì tác động đối với việc làm và nền kinh tế rộng hơn của cường quốc lớn nhất thế giới là hoàn toàn có thể hình dung được, nhưng không phải theo chiều hướng tích cực.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), vốn luôn thúc giục Quốc hội cung cấp nhiều kích thích hơn, đã cho thấy một vấn đề rõ ràng rằng số phận của nền kinh tế Mỹ phụ thuộc nghiêm trọng vào tiến trình lây lan của dịch bệnh. Ngân hàng trung ương đang tiếp tục lên kế hoạch cho một kịch bản tồi tệ nhất, mặc dù trước đó đã áp dụng hành động "chưa từng có" để cố gắng bảo vệ nền kinh tế và hệ thống tài chính Mỹ.
Thị trường chứng khoán Mỹ, tâm điểm định hướng cho các thị trường chứng khoán trên toàn cầu, đã giao dịch "nhiệt tình" như thể virus là một cái gì đó không đáng lo ngại, bất chấp nhiều cảnh báo được đưa ra cho thấy doanh thu quý II/2020 của các tập đoàn sẽ giảm trung bình 37%.
Ngược lại, chứng khoán tương lai - trái phiếu kho bạc 10 năm - của Mỹ chứng kiến mức lợi suất -1,03% vào ngày 31/7, cho thấy những dấu hiệu của mức lãi suất thấp và tăng trưởng yếu trong vài năm tới.
Những gì thể hiện trên thị trường trái phiếu cho thấy không có kỳ vọng nào về quá trình phục hồi hình chữ V hay hình chữ U, hay thậm chí là bất cứ thứ gì khác, ngoại trừ sự quay trở lại của một tiến trình tăng trưởng khiêm tốn kéo dài vài năm.
Tại Australia, trái phiếu kho bạc 10 năm hiện có lợi suất đạt khoảng 0,8% và rất có khả năng sẽ sớm sụt giảm trong thực tế. Chỉ số giá tiêu dùng CPI của quý II/2020 đã giảm 1,9% do tác động tồi tệ của đại dịch gây ảnh hưởng tới giá xăng dầu và dịch vụ giáo dục.
Điểm sáng duy nhất trong bức tranh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu, với số liệu công bố vào ngày 31/7 là của Trung Quốc, nơi mà một cuộc khảo sát của các nhà quản lý nhà máy đã cho thấy hoạt động sản xuất tăng trưởng trong tháng thứ ba liên tiếp.
Tuy nhiên, Trung Quốc - ngay cả khi không gia tăng căng thẳng ngày càng sâu rộng với Mỹ - cũng khó có thể đảm bảo cho sự phục hồi kinh tế toàn cầu.
Các thị trường chứng khoán đã không còn được xem là phong vũ biểu cho thể trạng kinh tế toàn cầu, khi mà sự lạc quan bị tận dụng một cách nhầm lẫn. Thậm chí ngay cả khi vắc-xin để chống lại virus SARS-CoV-2 được bào chế thành công và phân phối rộng rãi, nhanh chóng tới mọi quốc gia, thì thế giới vẫn sẽ ở trong trạng thái tăng trưởng thấp và không chắc chắn, ít nhất đến hết năm 2021./.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons